TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG CVC
PHẦN NHÀ NƯỚC
Câu 1
Điều 2 HP 1992, SĐ, BS 2001 quy định: “” NNCHXHCNVN là NNPQ của dân, do dân, vì dân” Anh, chị hãy lý giải:
- NNPQ là gì?
- So sánh NNPQ nói chung với khái niệm NNPQXHCNVN nói riêng?
- Tại sao phải XD và HTNNPQXHCN? Phương hướng hoàn thiện BMNN theo hướng pháp quyền là gì?
Trả lời:
Xu hướng chung của các quốc gia trong thế giới hiện đại là xây dựng NNPQ. Xây dựng NNPQ trở thành một đòi hỏi cấp bách của NNVN hiện nay trên con đường hiện đại hoá và công nghiệp hoá đất nước.
Các yếu tố cấu thành NNPQ là rất khác nhau theo các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu khoa học. Nhưng điểm chung nhất được nhiều người thừa nhận trước hết NN đó phải là một NN hợp pháp, sau đấy là NN đó phải có HP, phải có PL vì con người, việc tổ chức quyền lực NN phải tuân theo nguyên tắc phân quyền ....
NNPQ là một hình thức tổ chức NN với sự phân công lao động khoa học, hợp lý giữa các quyền lập pháp, hành pháp, t¬ư pháp, có cơ chế kiểm soát quyền lực, NN đ¬ược tổ chức và hoạt động trên cơ sở PL, NN quản lý xã hội bằng PL, PL có tính khách quan, nhân đạo, công bằng, tất cả vì lợi ích chính đáng của con ng¬ười.
2. So sánh các đặc trưng của NNPQ nói chung và NNPQXHCNVN nói riêng:
a) Những đặc điểm chung của NNPQ
Trên cách hiểu phổ quát nhất, NNPQ đ¬ược thể hiện ở những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tổ chức NN đ¬ược thiết kế, hoạt động trên cơ sở PL, bản thân NN cũng phải đặt mình trong khuôn khổ PL. Hình thức tổ chức NN được xây dựng trên cơ sở của sự phân công lao động hợp lý giữa các loại cơ quan trong BMNN: lập pháp, hành pháp và t¬ư pháp.
Thứ hai, một hình thức tổ chức NN mà PL có vị trí, vai trò xã hội to lớn, là ph¬ương tiện điều chỉnh quan trọng hàng đầu đối với các quan hệ xã hội, là công cụ của nhà nứơc và toàn xã hội.
Thứ ba, PL trong NNPQ phải thực sự vì con người-giá trị cao quý nhất. Theo đó PL là công cụ ghi nhận các quyền con ng¬ười, quy định cơ chế bảo đảm và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân.Tuân thủ PL là nghĩa vụ của NN, cá nhân và tổ chức, không có ngoại lệ nào.
Xây dựng NNPQ là một tất yếu khách quan ở n¬ước ta. Đư¬ờng lối xây dựng NNPQ VN XHCN đã đ¬ược Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của ĐCSVN xác định: " NN là trụ cột của hệ thống chính trị, là công cụ chủ yếu thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là NNPQ của dân, do dân, vì dân".
Thể chế hoá tinh thần, nội dung trên của Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Điều 2 HP năm 1992 ( đã được sửa đỏi, bổ sung năm 2001) quy định: " NN Cộng hoà xã hội chủ nghĩâ VN là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức…"
b. Những đặc điểm riêng của NNPQ VN
Thứ nhất, quyền lực NN ở VN không phân chia mà là phân công và phối hợp giữa các CQNN thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
NNPQ XHCN VN bảo đảm quyền lực NN là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực NN
+ Quốc hội thực hiện quyền lập pháp
+ CP thực hiện quyền hành pháp
+ Tòa án và viện kiểm sát thực hiện quyền tư pháp
Thứ hai, NNPQ XHCN VN là NN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân
Cái gốc của chế độ NNPQ là xác lập dân chủ, tức là thừa nhận và bảo đảm thực hiện quyền lực của nhân dân. Quyền lực NN phải là sản phẩm của ý chí nhân dân.
+ Bằng quyền bầu cử phổ thông đầu phiếu nhân dân ta bầu ra cơ quan đại biểu cao nhất của mình là Quốc hội. Quốc hội thay mặt nhân dân ban hành HP qua đó phân công thực hiện các quyền cho các cơ quan nhà nước khác.
+ Khẳng định quyền lực NN thuộc về nhân dân không chỉ là nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong HP mà còn gắn liền với với việc thiết lập các cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân.
- Nhân dân ta, người chủ của quyền lực, không chỉ tạo lập nên NN của mình, trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện cho mình thực thi quyền lực, mà còn thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt động quản lý của NNNN, cũng như vào các hoạt động thuộc phạm vi của NN – hoạt động lập pháp, hoạt động quản lý – điều hành, công tác xét xử và các hoạt động bảo vệ PL.
- Là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, Mặt trận Tổ quốc VN và các tổ chức thành viên là những tổ chức để qua đó nhân dân ta “tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng NN chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân (…), giám sát hoạt động của CQNN, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức NN (Điều 9 HP).
- Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động, cùng với CQNN (…) chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác, tham gia QLNN và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của CQNN…” (Điều 10 HP). Thay mặt cho các tổ chức của mình, Chủ tịch uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc VN, Tổng liên đoàn lao động VN và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân được mời tham dự các phiên họp của CP khi bàn các vấn đề có liên quan (Điều 111 HP). Đến lượt mình, CP có trách nhiệm hiến định là phối hợp với các tổ chức đó trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả (Điều 112 HP).
- Cá nhân công dân, song song với việc tham gia vào các hoạt động của NN với tư cách là thành viên của các tổ chức chính trị – xã hội, còn tham gia công việc của NN và xã hội ở cơ sở trong các hoạt động đa dạng nhằm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng (Điều 11 HP). Trong các phạm vi khác nhau của hoạt động NN, PL cũng đã tạo ra những điều kiện về mặt pháp lý để thu hút sự tham gia rộng rãi và sự đóng góp tích cực của công dân. Đó là dân chủ XHCN trong hiện thực.
+ Hiệu quả của chính quyền, của cả hệ thống chính trị của chúng ta hiện nay là đẩy tới sự nghiệp đổi mới, làm cho đất nước ta không ngừng phát triển, mà trước hết là lấy kết quả phát triển CNH, HDH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm mục tiêu tổ chức và HD
Thứ ba, NNPQ XHCN VN là NN do ĐCSVN lãnh đạo
+ Trong hệ thống chính trị VN ĐCSVN là một bộ phận hợp thành, vừa là tổ chức lãnh đạo hệ thống ấy. Lịch sử của Đảng ta là lịch sử của một Đảng cách mạng gắn bó máu thịt với nhân dân. Đảng ở trong lòng dân, từ nhân dân mà ra và hoạt động không vì mục đích nào khác ngoài việc phục vụ lợi ích của nhân dân. Đảng hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình nhờ sự ủng hộ của nhân dân, đi đúng đường lối phục vụ nhân dân.
+ Lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình trước dân tộc, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, coi đó là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng.
+ Đảng phải thường xuyên duy trì tốt mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.
Cụ thể:
Thứ nhất, Đảng tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân là để lấy các ý kiến đó làm cở sở cho việc hoạch định đường lối, chủ trương đúng đắn của mình.
Thứ hai, khi đã có đường lối, chủ trương, chính sách tốt thì Đảng chỉ có thể đưa đường lối, chủ trương, chính sách đó vào cuộc sống nếu được sự tiếp nhận và tự giác thực hiện từ phía nhân dân, từ đó mới có thể huy động được đông đảo nhân dân tham gia thực hiện bằng nhân tài, vật lực của chính nhân dân – nguồn lực nội sinh của sức mạnh kiểm tra, sự sáng tạo của nhân dân.
Thứ ba, sự liên hệ mật thiết với nhân dân giúp cho Đảng có thể dựa vào dân để tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng ta và đội ngũ đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh.
3 - Tại sao nước ta phải xây dựng NNPQ XHCN? Phương hướng hoàn thiện BMNN ta theo hướng pháp quyền.
Việc xây dựng NNPQ, về cơ bản chính là yêu cầu, đòi hỏi đối với việc hoàn thiện phương thức tổ chức quyền lực NN để đáp ứng các tiêu chí của nền dân chủ XHCN.
Việc xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta xuất phát từ những yêu cầu, đòi hỏi chủ yếu sau đây:
1. Nhu cầu về việc phát huy bản chất XHCN duy trì và phát huy bản chất tốt đẹp của NN XHCN và hệ thống chính trị XHCN, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của tất cả các khâu trong hệ thống chính trị; đấu tranh có hiệu quả chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, làm trong sạch bộ máy Đảng và NN;
2. Thúc đẩy mạnh mẽ cải cách kinh tế – xã hội, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế;
3. Tôn trọng và bảo đảm các quyền và tự do của con người, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
4. Những quan điểm cơ bản về xây dựng NNPQ VN XHCN.
Việc xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân, thực hiện quyền lực NN thuộc về nhân dân. Quan niệm này thể hiện bản chất NN ta và đã đ¬ược xác định trong HP 1992 (sửa đổi năm 2001):"NN Cộng hoàXHCNVN là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức".
Nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân đ¬ược thể hiện trong tổ chức và hoạt động, trong chính sách và PL NN ta. Nhà nứơc ta do nhân dân thành lập, do nhân dân kiểm tra, giám sát. Mục tiêu cao nhất của NN là phục vụ lợi ích của nhân dân. Vì thế, trong quá trình xây dựng NNPQ VN XHCN cần quán triệt những quan điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, Quyền lực NN thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, t¬ư pháp.
Thứ hai, đổi mới và tăng c¬ường sự lãnh đạo của Đảng đối với NN
Thứ ba, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các CQNN
Thứ tư, tăng cư¬ờng pháp chế XHCN, NN quản lý xã hội bằng PL, đồng thời giáo dục nâng cao đạo đức
5. Những phương hướng cơ bản để xây dựng NNPQ VN XHCN
Xây dựng NNPQ là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, khó khăn, phức tạp. Những nhiệm vụ và phư¬ơng h¬ướng cơ bản về xây dựng NNPQ liên quan đến nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá- xã hội, NN và PL. Nghĩa là không chỉ quan tâm đến cải cách BMNN hay sửa sang, hoàn thiện PL…mà phải tiến hành đồng bộ nhiều ph¬ương hư¬ớng hoạt động để tạo tiền đề vững chắc cho hiện thực NNPQ ở n¬ước ta. Về tổng thể, có thể nêu ra những ph¬ương hư¬ớng, nhiệm vụ cơ bản sau:
- Hoàn thiện NN Cộng hoà XHCN VN;
- Hoàn thiện hệ thống PL;
- Xây dựng ý thức, lối sống tuân thủ PL, xây dựng nền văn hoá pháp lý;
- Thực hiện dân chủ hoá đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá- xã hội của đất n¬ước;
- Bảo đảm và bảo vệ các quyền con ng¬ười;
- Đôỉ mới hệ thống chính trị;
- Phát triển nền kinh tế thị tr¬ường định hướng XHCN;
- Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
- Phát huy nội lực, chủ động tham gia hội nhập khu vực và quốc tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Từ góc độ pháp lý, những ph¬ương h¬ướng, nhiệm vụ cơ bản về xây dựng NNPQ tập trung nhất vào NN, PL, dân chủ, quyền con ng¬ười, hệ thống chính trị.
Cụ thể:
Thứ nhất, hoàn thiện NN Cộng hoà XHCN VN, tiếp tục thực hiện công cuộc cải cách BMNN
Công cuộc cải cách lớn về BMNN thời gian qua đã đạt đ¬ược một số thành tựu to lớn theo định hư¬ớng xây dựng NNPQ XHCN. Tuy vậy, trước yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước và tình hình quốc tế hiện nay, tổ chức và hoạt động của BMNN còn nhiều yếu kém, bất cập. Do vậy, tiếp tục công cuộc cải cách NN là một trong những nhiệm vụ chiến l¬ược chủ yếu để xây dựng NNPQ, phát huy dân chủ XHCN.
Thứ hai, đổi mới hoạt động của Quốc hội
Thời gian qua hoạt động của Quốc hội đã đạt đ¬ược nhiều thành tựu to lớn, đặc biệt trong lĩnh vực xây dạng PL. Chất l¬ượng của các luật, pháp lệnh đã đ¬ược nâng cao, đã góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá; ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tuy vậy, so với yêu cầu NNPQ, cần phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất l¬ượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội trên một số lĩnh vực quan trọng như¬ sau:
- Đôỉ mới về tổ chức bộ máy ( về đại biểu Quốc hội, về các cơ quan chuyên môn của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội…).
- Đôỉ mới nâng cao chất l¬ượng hiệu quả hoạt động lập pháp của Quốc hội. Nâng cao chất l¬ượng công tác xây dựng và thực hiện chư¬ơng trình xây dựng PL, pháp lệnh. Nâng cao chất l¬ượng công tác soạn thảo, thẩm tra, thảo luận các dự án luật, pháp lệnh. Thực hiện dân chủ hoá rộng rãi trong hoạt động lập pháp, đổi mới cơ chế lấy ý kiến của nhân dân về dự án luật, pháp lệnh. Hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội nhằm bảo đảm tính khách quan, phổ thông, dễ hiểu, dễ vận của các VBQPPL. Gỉam dần các luật, pháp lệnh chỉ dừng lại ở những nguyên tắc chung muốn thực hiện đ¬ược phải có văn bản hư¬ớng dẫn thi hành.
- Cải tiến chất l¬ượng kỳ họp của Quốc hội, tăng cư¬ờng năng lực hoạt động của đại biểu Quốc hội, tăng c¬ường số l¬ượng đại biểu chuyên trách.
- Nâng cao chất l¬ượng hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội. Để thực hiện đ¬ược nhiệm vụ này, cần xác định rõ ràng, về nội dung giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của Chủ tịch n¬ước, Uỷ ban Th¬ường vụ Quốc hội, CP, Thủ t¬ướng CP, Toà án nhân dân tối cao, VKSND tối cao. Đồng thời đổi mới phương thức giám sát, xác định hậu quả pháp lý của giám sát tối cao.
Thứ ba, thực hiện cải cách NHCQG
Cải cách NHCQG là khâu trọng tâm của toàn bộ công cuộc cải cách BMNN đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ. Trong đó, cải cách thủ tục hành chính đ¬ược xác định là khâu đột phá. Mục tiêu đặt ra cho cải cách hành chính xét về tổng thể là nhằm chuyển từ một nền hành chính trì trệ, nhiều tầng, nhiều nấc, thủ tục hành chính phức tạp, không thuận tiện cho ng¬ời dân sang một nền hành chính gọn nhẹ, trong sạch, hiệu quả, phục vụ những nhu cầu của ng¬ười dân và xã hội một cách tốt nhất.
Thực hiện cải cách hành chính trên cả ba mặt: cải cách thể chế hành chính với trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, cải cách cơ cấu, tổ chức và quy chế hoạt động của hệ thống hành chính; hoàn thiện chế độ công vụ và quy chế công chức NN. Tiếp tục cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, thực hiện có hiệu qủa cơ chế " một cửa", tin học hoá các hoạt động quản lý hành chính.
Để có một nền hành chính năng động, hiệu qủa, tinh gọn, cần phải tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của CP, sắp xếp , thu gọn các đầu mối của CP. Đổi mới hoạt động của CP theo h¬ướng CP tập trung vào việc xây dựng chính sách, các thể chế, hoạch định chiến l¬ược phát triển kinh tế- xã hội, chỉ đạo và điều hành phối hợp các ngành, các cấp thực thi chính sách, PL.
Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền điạ phương, đẩy mạnh phân công, phân cấp, nâng cao tính chủ động, chịu trách nhiệm của chính quyền địa phư¬ơng đối với mọi mặt đời sống xã hội tại địa phư¬ơng. Tăng cường chế độ kiểm tra, giám sát, đánh giá các hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Tổ chức hợp lý HĐND, tăng cư¬ờng vai trò của HĐND tại địa ph¬ương. Kiện toàn các cơ quan chuyên môn của UBND và bộ máy chính quyền cấp xã.
Trong nền hành chính, yếu tố con ng¬ười là khâu then chốt. Cần xây dựng quy chế hoạt động công vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ. Thực hiện th¬ường xuyên công tác đào tạo, bồi d¬ưỡng nâng cao trình độ và kỹ năng thực hành chuyên môn của đôị ngũ cán bộ. Xây dựng cho đội ngũ cán bộ NN thói quen tuân thủ PL, áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, công tâm trong việc giải quyết công việc đối với ng¬ười dân, chịu trách nhiệm pháp lý về các quyết định và hành vi của mình.
Thứ tư, thực hiện cải cách t¬ư pháp
Trong NNPQ và một xã hội công dân phát triển lành mạnh, vai trò của bộ máy t¬ư pháp đặc biệt quan trọng. Ngày 02/01/2002 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác t¬ư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49-NQ/TƯ năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Cải cách tư¬ pháp cần được tiến hành trong tổng thể cải cách của BMNN, cải cách hành chính. Nôị dung và các nguyên tắc cơ bản của cải cách tư¬ pháp ở nư¬ớc ta tập trung vào những lĩnh vực hoạt động sau:
- Xây dựng các cơ quan t¬ư pháp vững mạnh, trong sạch, từng bước hiện đại hoá. Hệ thống các cơ quan t¬ư pháp bao gồm: các Toà án nhân dân, các VKSND, các cơ quan điều tra; tổ chức luật sư, công chứng, giám định t¬ư pháp và các chức danh t¬ư pháp như¬ thẩm phán, luật s¬ư, công chứng viên, giám định viên…
- Nâng cao đạo đức nghề nghiệp của cán bộ t¬ư pháp trong công tác điều tra, gíam định, truy tố, xét xử, thi hành án và các hoạt động t¬ư pháp khác.
TC lại CQ điều tra, thi hành án theo nguyên tắc thu gọn đầu mối, thành lập cảnh sát t¬ư pháp.
- Đảm bảo nguyên tắc độc lập khi xét xử chỉ tuân theo PL của thẩm phán, hội thẩm nhân dân và một số hoạt động t¬ư pháp khác như¬ điều tra, truy tố. Để nâng cao tính độc lập của hoạt động tư¬ pháp nói chung, hoạt động xét xử nói riêng cần phải thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ như kiện toàn cơ cấu, tổ chức, cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, hoàn thiện các quy định PL; đào tạo bồi d¬ưỡng nghiệp vụ và nâng cao đạo đức nghề nghiệp…
- Các hoạt động tư¬ pháp phải đảm bảo tính dân chủ, giản tiện, minh bạch và hiệu quả. Hoạt động t¬ư pháp phải thực sự baỏ vệ đ¬ược các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
- Xử lý nghiêm minh, đúng PL, công bằng, kịp thời mọi hành vi vi phạm PL, giảm đến mức thấp nhất tình trạng oan, sai, tồn đọng các vụ việc.
Thứ năm, hoàn thiện hệ thống PL
Hoàn thiện hệ thống PL theo tiêu chí NNPQ là vấn đề rộng lớn, liên quan đến các lĩnh vực xây dựng PL, tổ chức thực hiện PL, phổ biến, giáo dục PL, xây dựng ý thức PL và văn hoá pháp lý.
Trong xây dựng PL cần chú ý đảm bảo cả về số l¬ượng vầ chất lượng các văn bản PL, cả PL về nội dung và PL về thủ tục. Hoàn thiện hệ thống PL theo h¬ướng bảo đảm tính công bằng, minh bạch, tính khả thi của các quy định, tính đồng bộ và thống nhất của các văn bản, tính phù hợp giữa luật với các hình thức điều chỉnh khác. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa PL quốc gia với PL và thông lệ quốc tế.
Xây dựng chiến l¬ược phát triển khung PL nhằm tạo môi tr¬ường pháp lý thuận lợi, an toàn cho các hoạt động đầu tư¬, kinh doanh, khuyến khích các thành phần kinh tế cùng hợp tác phát triển, cạnh tranh lành mạnh.
Xây dựng khung PL phục vụ chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đảm bảo sự ghi nhận về nội dung và cơ chế thực thi các quyền, lợi ích chính đáng của công dân.
Tổ chức thực hiện PL, nâng cao chất l¬ượng hiệu quả hoạt động áp dụng PL của các cơ quan nhà n¬ớc có thẩm quyền, xây dựng môi trường xã hội- pháp lý thuận lợi cho những hành vi hợp pháp.
Đảm bảo thực hiện tính tối cao của luật. Trong hệ thống PL, các đạo luật phải chiếm ư¬u thế, điều đó phản ánh tính tối cao của quyền lực nhân dân bởi các đạo luật đ¬ược cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân ban hành, quy định những vấn đề quan trọng, cơ bản của xã hội.
Đảm bảo tính minh bạch, công khai của PL, NN phải đáp ứng nhu cầu thông tin về PL, về các hoạt động thực tiễn pháp lý cho cá nhân và tổ chức. Cần triển khai chiến l¬ược xây dựng ý thức PL và thực thi PL của các tầng lớp nhân dân.
Thứ sáu, đổi mới hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội
Công cuộc cải cách BMNN ta trong giai đoạn hiện nay phải đ¬ược tiến hành song song, đồng bộ với việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị theo h¬ướng xây dựng NNPQ VN XHCN.
- ĐCSVN là lực lư¬ợng lãnh đạo NN và xã hội. Xây dựng NNPQ không thể tách rời với việc đổi mới hệ thống chính trị. Tr¬ước hết phải đổi mới tổ chức và hoạt động của Đảng, nâng cao via trò, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, đổi mới ph¬ương thức lãnh đạo của Đảng đối với NN và xã hội.
- Tổ chức chính trị-xã hội là nơi triển khai thực hiện chính sách của Đảng, PL của NN. Vì vậy, các tổ chức chính trị- xã hội phải có bư¬ớc đổi mới về cơ cấu tổ chức, hình thức hoạt động để góp phần vào việc xây dựng thành công NNPQ.
- Dân chủ vừa là yếu tố cấu thành của NNPQ, vừa là mục tiêu vừa là động lực của NNPQ. Dân chủ còn là điều kiện cho sự tồn tại của NNPQ. Do đó, để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng NNPQ, cần thực hiện dân chủ hoá sâu sắc mọi mặt của đời sống NN, PL, xã hội. Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, xây dựng sự đồng thuận xã hội.
Câu 2
Trình bày nguyên tắc quyền lực NN là thống nhất, có sự phân công phôí hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nguyên tắc này được thể hiện trong HP năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) như thế nào?
Trả lời:
Điều 2 HP năm 1992 ( đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định:
"NN Cộng hoàXHCNVN là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực NN thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Quyền lực NN là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.”
1. Quan niệm về quyền lực nhà nước
Với nghĩa chung nhất, quyền lực mà cái mà nhờ đó buộc ng¬ười khác phải phục tùng, là khả năng thực hiện ý chí của mình trong quan hệ với người khác.
Trong xã hội, quyền lực có nhiều loại khác nhau: quyền lực đạo đức, quyền lực tôn giáo, quyền lực dòng họ, quyền lực kinh tế…Trong số nhiều loại quyền lực đồng thời tồn tại, đan xen thâm nhập và ảnh h¬¬ưởng lẫn nhau tạo thành chỉnh thể của quyền lực trong xã hội, đáng chú ý nhất là quyền lực công (quyền lực xã hội) và quyền lực chính trị.
Quyền lực chính trị là một bộ phận của quyền lực trong xã hội, và bao giờ cũng mang tính giai cấp. Quyền lực chính trị của giai cấp nắm quyền còn đ¬ược tổ chức thành NN. Do vậy, xét về bản chất, quyền lực NN là quyền lực của giai cấp thống trị và nó đ¬ược thực hiện bằng cả một hệ thống chuyên chính do giai cấp đó lập ra.
Quyền lực chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân. Nhưng để thực hiện quyền lực chính trị, giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
2. Nội dung nguyên tắc quyền lực NN là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các CQNN thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Nguyên tắc quyền lực nhà nư¬ớc thống nhất thể hiện quyền lực NN thuộc về nhân dân, chủ thể cao nhất thực hiện quyền lực NN. Đây là quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo , tổ chức và hoạt động của NN ta không theo nguyên tắc phân chia quyền lực như¬ ở nhiều quốc gia khác. Đồng thời quan điểm này cũng thể hiện sự tiếp thu những hạt nhân hợp lý trong học thuyết và thực tiễn áp dụng phân chia quyền lực ở các quốc gia khác.
HP 1992 sửa đổi 2001 đã thể hiện một bước tiến trong việc nhận thức và thực hiện nguyên tắc quyền lực NN thống nhất như¬ng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, t¬ư pháp. Sự phân công rành mạch, xác định rõ chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm của từng loại CQNN và cơ chế phối hợp chính là điều kiện cốt yếu để đảm bảo thống nhất quyền lực nhà nước.
"…Quyền lực NN là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp"(Điều 2 HP năm 1992 đã đ¬ược sửa đổi, bổ sung năm 2001). Sự phân công đó được thể hiện cụ thể như sau:
1). Quốc hội thực hiện quyền lập pháp
Vị trí pháp lý của Quốc hội được quy định trong HP nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa VN và cụ thể hóa trong Luật tổ chức Quốc hội năm 2001( đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007).
Ở nước Cộng hoà Xó hội chủ nghĩa VN, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện nền dân chủ gián tiếp bằng cách thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Điều 83 quy định cụ thể vị trí pháp lý của Quốc hội:
"Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực NN cao nhất của nước Cộng hoà Xó hội chủ nghĩa VN.
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xó hội, quốc phũng, an ninh của đất nước; Những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của BMNN; về quan hệ xó hội và hoạt động của công dân".
Như vậy, Quốc hội chiếm một vị trí cao nhất trong toàn bộ BMNN Cộng hoà xó hội chủ nghĩa VN. Không một CQNN nào trong bộ máy các CQNN của ta có được một vị trí như vậy. Sở dĩ Quốc hội có một địa vị như vậy vỡ Quốc hội là cơ quan duy nhất do nhân dân toàn quốc bầu ra một cách trực tiếp. Với cách thức thành lập này cộng với quan điểm "Tất cả quyền lực NN đều thuộc về ND, ND thực hiện quyền lực của mình bằng cơ quan đại diện do nhân dân toàn quốc bầu ra", là cơ sở cho Quốc hội có quyền lực cao nhất ở nước Cộng hoà XHCNVN.
- Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp;
- Quốc hội quyết định những vấn đề cơ bản nhất về đối nội và đối ngoại của đất nước: các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Những vấn đề này có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển toàn diện của đất nước cũng như duy trì trật tự, ổn định xã hội.
- Quốc hội xác định các nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của BMNN, trực tiếp thành lập các cơ quan quan trọng trong BMNN; trực tiếp bầu, bổ nhiệm các chức vụ cao nhất trong các CQNN ở Trung ương.
- Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của NN, giám sát việc tuân theo HP và PL.
2). CP thực hiện quyền hành pháp
Điều 109 HP nước Cộng hũa xó hội chủ nghĩa VN hiện hành quy định địa vị pháp của CP như sau:
“CP là cơ quan chấp hành của Quốc hội, CQHCNN cao nhất của nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa VN.
CP thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xó hội, quốc phũng, an ninh và đối ngoại của NN; bảo đảm hiệu lực của BMNN từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành HP và PL; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.
CP chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.”
CP và các cơ quan QLNN thực hiện quyền hành pháp, tổ chức đời sống xã hội theo quy định của PL, CP là cơ quan chấp hành của Quốc hội, CQHCNN cao nhất
CP có chức năng thống nhất quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; lãnh đạo thống nhất bộ máy hành chính NN từ trung ương đến cơ sở về tổ chức cán bộ; bảo đảm thi hành HP và PL; quản lý việc xây dựng kinh tế quốc dân, thực hiện chính sách tài chính tiền tệ quốc gia; quản lý y tế, giáo dục; quản lý ngân sách NN; thi hành các biện pháp cần thiết bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; quản lý công tác đối ngoại; thực hiện chính sách xã hội ... của NN.
3)TAND và VKSND thực hiện quyền tư pháp
TAND và VKSND thực hiện quyền tư pháp, trong phạm vi chức năng của mình, các cơ quan này có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN; bảo vệ chế độ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của NN, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân (Điều 126 HP 1992).
- Toà án ND thực hiện nhiệm vụ bảo vệ PL thông qua hoạt động xét xử.
Điều 127 HP 1992 quy định:
“Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa VN…"
- VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các HD tư pháp theo quy định của HP và PL.
Điều 137 của HP 92 quy định:
“VKSND tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho PL được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Các VKSND địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định.”
Bên cạnh việc phân công trong việc thực hiện quyền lực NN thì giữa các CQNN có sự phối hợp trong quá trình thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Sự phối hợp này nhằm đảm bảo tính đồng bộ, ăn khớp trong hoạt động của NN, tạo nên hiệu lực, hiệu quả của QLNN.
Sự phối hợp giữa các CQNN được thực hiện trên cả lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp thông các hoạt động phối hợp trong quá trình xây dựng, ban hành PL, tổ chức thực hiện PL, giám sát việc thực hiện PL, xử lý vi phạm PL, tổ chức BMNN. Chẳng hạn, trong quá trình lập pháp, CP có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội; trong quá trình tổ chức thực hiện PL, CP, Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao phối hợp với nhau để hướng dẫn thi hành Luật của Quốc hội; trong quá trình tổ chức BMNN, Thủ tướng CP có quyền đề nghị Quốc hội thành lập, sáp nhập, giải thể các Bộ, cơ quan ngang Bộ…
Câu 3
Điều 2 HP năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định:" NN Cộng hoà XHCNVN là Nhà nứôc pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân" anh, chị hãy lý giải:
Thế nào là NN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Trả lời:
Điều 2 HP năm 1992 ( đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “NNCHXHCNVN là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân, vì nhân dân"
Quy định trên của HP năm 1992 nhằm khẳng định tính nhân dân của NNCHXHCNVN.
“NN Cộng hoà XHCN VN là NN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực NN thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.
1). NN của nhân dân
- Là NN mà nhân dân là ngư¬ời làm chủ NN, là chủ thể quyền lực của NN;
- Nhân dân có toàn quyền quyết định tính chất, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, mục tiêu, phư¬ơng hư¬ớng hoạt động, xu hư¬ớng phát triển của BMNN, sử dụng BMNN để thực hiện quyền lực của mình và kiểm tra, giám sát sự hoạt động của BMNN,
- Tất cả các CQNN, cán bộ, công chức NN liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, báo cáo hoạt động tr¬ước nhân dân;
- Nhân dân thực hiện quyền lực NN tr¬ước hết thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm tr¬ước nhân dân( Điều 6 HP năm 1992).
- Nhân dân VN là ng¬ười làm chủ NN, là chủ thể của quyền lực NN vì d¬ới sự lãnh đạo của ĐCSVN, nhân dân ta đã tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi(năm 1945), lập nên NN công nông đầu tiên ở Đông Nam châu á và sử dụng NN ấy để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và hiện nay đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nư¬ớc nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc VN XHCN.
2). NN do nhân dân
- Là NN mà các CQNN từ trung ¬ương xuống địa phương đều do nhân trực tiếp hoặc gián tiếp thành lập để thực hiện quyền làm chủ NN của mình( ví dụ, cử tri trực tiếp bầu thành lập Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, sau đó Quốc hội và Hội đồng nhân dân bầu thành lập các cơ quan chấp hành của mình);
- Mọi chủ tr¬ương, chính sách, PL của NN đều do nhân dân trực tiếp hay gián tiếp tham gia xây dựng và thực hiện(ví dụ, nhân dân đóng góp ý kiến vào các dự thảo luật, pháp lệnh và tổ chức thực hiện những văn bản đó khi chúng đ¬ược ban hành);
- Mọi vấn đề quan trọng có ý nghĩa chung cả n¬ước đều do nhân dân trực tiếp hay gián tiếp thảo luận, bàn bạc, quyết định, thực hiện ( ví dụ, nhân dân tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả n¬ước và địa ph¬ương về quốc kế dân sinh và đối ngoại, kiến nghị cải cách BMNN, biểu quyết khi NN tổ chức tr¬ưng cầu ý dân);
- Trực tiếp quản lý các công việc mà chính quyền giao cho;
- Kiểm tra, giám sát hoạt động của BMNN và đấu tranh phòng chống tệ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và những hiện t¬ượng tiêu cực trong BMNN.
3). NN vì nhân dân
- NN có cơ cấu tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, thuận tiện cho ND sử dụng và kiểm tra, giám sát;
- Có mục đích hoạt động vì lợi ích của nhân dân ;
- Mọi chủ tr¬ương, chính sách, PL đều đ¬ược xây dựng và thực hiện xuất phát từ lợi ích của nhân dân và vì lợi ích của nhân dân;
- Các CQNN, cán bộ, công chức, viên chức NN luôn tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác;
- Công cuộc cải cách BMNN hiện nay cũng nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân.
4) Để đảm bảo cho NN của ta luôn là NN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì một trong những biện pháp quan trọng là phải th¬ường xuyên chăm lo củng cố, bảo vệ và phát huy liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức vì đó là nền tảng của nhân dân.
- Thực hiện tốt chính sách của đảng, NN đối với giai cấp công nhân, cần phát triển cả về số lư¬ợng và chất l¬ượng, nâng cao giác ngộ chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp; bảo vệ quyền lợi và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần; ư¬u tiên đào tạo cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành.
- Để phát triển giai cấp nông dân và phát huy vai trò của họ, phải công nghiệp hóa và hiện đại hoá nông nghiệp, phát triển nông thôn, thực hiện tốt các chính sách về ruộng đất, phát triển nông nghiệp toàn diện, tiêu thụ nông sản, hàng hoá, bảo hiểm sản xuất và bảo hiểm xã hội, giúp đỡ vùng khó khăn, phân bố dân c¬ư theo quy hoạch, phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và dân trí.
- Đội ngũ trí thức luôn luôn đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n¬ước. Đảng và NN ta chủ tr¬ương, tạo điều kiện để họ thu nhận thông tin, tiếp cận các thành tựu mới của khoa học, công nghệ và văn hoá thế giới, nâng cao trình độ chính trị, kiến thức chuyên môn; khuyến khích tự do sáng tạo, phát minh, cống hiến; phát hiện, bồi d¬ưỡng, sử dụng đúng và đãi ngộ xứng đáng các tài năng; phát huy năng lực của trí thức trong việc thực hiện các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học và xây dựng đường lối, chính sách của Đảng, PL của NN
Câu 4
Nguyên tắc quyền lực NN thuộc về nhân dân được hiểu như thế nào? liên hệ với thực tế địa phương, ngành nơi anh (chị )công tác.
Trả lời:
Nguyên tắc này được quy định tại các Điều 2, 6, 7, 11, 53 của HP năm 1992, thể hiện sâu đậm tính nhân dân của NN Cộng hoà XHCN VN. Việc thực hiện tốt nguyên tắc này không những đảm bảo cho NN ta luôn luôn là NN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà còn là một biện pháp hữu hiệu ngăn ngừa tệ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí trong BMNN.
Nội dung của nguyên tắc
Thứ nhất, nhân dân tổ chức nên BMNN trước hết thông qua chế độ bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín để lựa chọn những người có đủ đức, tài vào các cơ quan quyền lực NN. Sau đó các cơ quan quyền lực nhà nước bầu thành lập các cơ quan chấp hành của mình và những người lãnh đạo các cơ quan đó. Cử tri có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND và có thể bãi miễn các đại biểu đó khi họ không còn xứng đáng với cử tri nữa.
Thứ hai, nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia QLNN.
+ Dưới hình thức trực tiếp, nhân dân bỏ phiếu thành lập các cơ quan quyền lực NN;
+ Thảo luận các chính sách, PL của NN và những vấn đề chung nhất của cả nước và địa phương;
+ Bỏ phiếu quyết định những vấn đề trọng đại của quốc gia (biểu quyết toàn dân- trưng cầu dân ý);
+ Kiến nghị với CQNN;
+ Làm việc trong các CQNN;
+ Kiểm tra , giám sát sự hoạt động của các CQNN;
+ Quản lý một số công việc mà chính quyền giao cho, v. v…
Ngoài ra nhân dân còn tham gia QLNN thông qua những tổ chức mà mình là thành viên( các tổ chức chính trị- xã hội, các hội quần chúng…).
Thứ ba, quyền lực NN là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ( Điều 2 HP năm 1992). Bản chất của quyền lực NN là thống nhất. Tuy nhiên, để thực hiện quyền lực NN thống nhất ấy, mỗi giai cấp thống trị NN đều có cách thức tổ chức BMNN riêng, sao cho nó phhù hợp với ý chí và bảo vệ được lợi ích cuả mình.
Ở nước ta, tất cả quyền lực NN thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức"( Điều 2 HP năm 1992), bởi thế cho nên BMNN cần được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc cơ bản, có tính chất bao trùm là: "phân công và phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp" nhằm " bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sỗng ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân"( Điều 3 HP năm 1992).
Một trong những điểm quan trọng ở đây là vừa cần "phân công" vừa phải "phối hợp". Phân công để giữa các CQNN không có sự trùng lặp, lẫn lộn, chức năng, nhiệm vụ, nhưng khi thực hiện chức năng nhiệm vụ đó lại cần có sự phối, kết hợp với nhau nhằm đảm bảo tính tập trung, thống nhất, tính nhịp nhàng và đồng bộ trong hoạt động của BMNN để đạt được mục tiêu chung.
Liên hệ thực tiễn
Câu 5
Trình bày mô hình tổ chức hoạt động của BMNN ta theo quy định của HP năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Theo anh, chị để nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của BMNN cần có những giải pháp nào?
Trả lời:
BMNN Cộng hoà XHCNVN là hệ thống các CQNN từ trung ương xuống địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện những nhiệm vụ chiến lược và các chức năng của NN vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Các CQNN rất đa dạng, nhiều chủng loại. Nhưng thông thường BMNN nói chung bao gồm ba loại CQ: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp. Ở nước ta tồn tại hệ thống bốn CQ:
1. Cơ quan quyền lực NN( Quốc hội là cơ quan lập pháp và HĐND là cơ quan quyền lực NN ở địa phương);
2. Chủ tịch nước cộng hoàXHCNVN;
3. Các CQHCNN, tức là cơ quan hành pháp (đứng đầu hệ thống này là CP, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP có chức năng QLNN đối vơí các ngành, lĩnh vực, các UBND cấp tỉnh, huyện, xã và tương đương, các cơ quan chuyên môn của UBND các cấp…)
4. Các cơ quan xét xử (Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, Toà án quân sự và các Toà án khác theo luật định);
5. Các cơ quan kiểm sát (VKSND tối cao, các VKSND địa phương, các Viện kiểm sát quân sự).
Tất cả các CQNN tạo thành BMNN. BMNN là hệ thống thống nhất các CQNN và liên hệ chặt chẽ vơí nhau theo một cơ chế đồng bộ. Mỗi CQNN là một khâu (mắt xích) không thể thiếu của BMNN. Hiệu lực, hiệu quả của BMNN tuỳ thuộc vào hiệu lực, hiệu quả hoạt động của từng CQNN.
Đặc điểm của BMNN Cộng hoà XHCN VN:
1. Trong tổ chức và hoạt động luôn luôn đảm bảo tính thống nhất quyền lực và sự phân công, phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp;
2. Mang tính chất nhân dân, tính dân tộc, tính giai cấp công nhân;
3. Được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất xuất phát từ bản chất của chế độ dân chủ XHCN;
4. Đội ngũ cán bộ, công chức NN xuất phát từ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và luôn phục vụ lợi ích của nhân dân;
5. Có nhiệm vụ chiến lược và mục tiêu lâu dài là xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc VN XHCN;
6. Luôn luôn được cải cách, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2). Tổ chức BMNN theo HP năm 1992 ( đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001):
a. Quốc hội nước Cộng hoàXHCNVN
Quốc hội là "cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực NN cao nhất của Nước Cộng hoàXHCNVN". Quốc hội có chức năng:
+ Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Đây là chức năng ban hành các VBQPPL có hiệu lực PL cao nhất, điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất, tạo nên nền tảng của thể chế xã hội.
+ Quốc hội quyết định những vấn đề cơ bản nhất về đối nội và đối ngoại của đất nước: các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Những vấn đề này có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển toàn diện của đất nước cũng như duy trì trật tự, ổn định xã hội.
+ Quốc hội xác định các nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của BMNN, trực tiếp thành lập các cơ quan quan trọng trong BMNN; trực tiếp bầu, bổ nhiệm các chức vụ cao nhất trong các CQNN ở Trung ương.
+ Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của NN, giám sát việc tuân theo HP và PL.
Cơ cấu tổ chức của Quốc hội gồm: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội.
b. Chủ tịch nước Cộng hoàXHCNVN
Chủ tịch nước là người đứng đầu NN, thay mặt NN trong các quan hệ đối nội và đối ngoại (Điều 101, HP 1992).
Chủ tịch nước có phạm vi quyền hạn khá rộng, bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội, như: trong tổ chức nhân sự của BMNN, trong lĩnh vực an ninh quốc gia, trong lĩnh vực ngoại giao…
c. CP Nước Cộng hoàXHCNVN
CP là "Cơ quan chấp hành của Quốc hội, CQHCNN cao nhất của Nước Cộng hoàXHCNVN" (Điều 109, HP 1992).
Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, CP chịu sự giám sát của Quốc hội; chấp hành HP, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; trong hoạt động CP phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Quy định trên bảo đảm tính tập trung, thống nhất của quyền lực NN vào cơ quan quyền lực NN cao nhất là Quốc hội.
Với tư cách là CQHCNN cao nhất của cả nước, CP có chức năng thống nhất quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; lãnh đạo thống nhất bộ máy hành chính NN từ trung ương đến cơ sở về tổ chức cán bộ; bảo đảm thi hành HP và PL; quản lý việc xây dựng kinh tế quốc dân, thực hiện chính sách tài chính tiền tệ quốc gia; quản lý y tế, giáo dục; quản lý ngân sách NN; thi hành các biện pháp cần thiết bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; quản lý công tác đối ngoại; thực hiện chính sách xã hội ... của NN.
Cơ cấu thành phần của CP gồm có Bộ, cơ quan ngang Bộ. Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của CP, thực hiện chức năng QLNN đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả n¬ước; QLNN các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của NN tại doanh nghiệp có vốn NN theo quy định của PL.
d. Chính quyền địa phương: Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
- Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực NN ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và CQNN cấp trên (Điều 119).
Hội đồng nhân dân có chức năng:
+ Quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao mức sống của nhân dân, làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước;
+ Giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Toà án nhân dân và VKSND cùng cấp; giám sát thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, việc tuân theo HP, PL của CQNN, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân ở địa phương.
- Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và CQHCNN ở địa phương.
Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành HP, luật, các văn bản của CQNN cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân .
Uỷ ban nhân dân có chức năng: QLNN đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống địa phương.
e. Toà án nhân dân và VKSND
- Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do Luật định là những cơ quan xét xử của NN ta (Điều 127). Chức năng của Toà án nhân dân là xét xử các vụ án theo quy định của PL.
- VKSND có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của HP và PL.
3). Để nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả HD của BMNN cần có những giải pháp sau:
Thứ nhất, hoàn thiện BMNN Cộng hoà XHCN VN trong quá trình đổi mới
- Đổi mới hoạt động của Quốc hội
Thời gian qua hoạt động của Quốc hội đã đạt đ¬ược nhiều thành tựu to lớn, đặc biệt trong lĩnh vực xây dạng PL. Chất l¬ượng của các luật, pháp lệnh đã đ¬ược nâng cao, đã góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá; ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tuy vậy, so với yêu cầu NNPQ, cần phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất l¬ượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội trên một số lĩnh vực quan trọng như¬ sau:
- Đôỉ mới về tổ chức bộ máy ( về đại biểu Quốc hội, về các cơ quan chuyên môn của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội…).
- Đôỉ mới nâng cao chất l¬ượng hiệu quả hoạt động lập pháp của Quốc hội. Nâng cao chất l¬ượng công tác xây dựng và thực hiện chư¬ơng trình xây dựng PL, pháp lệnh. Nâng cao chất l¬ượng công tác soạn thảo, thẩm tra, thảo luận các dự án luật, pháp lệnh. Thực hiện dân chủ hoá rộng rãi trong hoạt động lập pháp, đổi mới cơ chế lấy ý kiến của nhân dân về dự án luật, pháp lệnh. Hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội nhằm bảo đảm tính khách quan, phổ thông, dễ hiểu, dễ vận của các VBQPPL. Gỉam dần các luật, pháp lệnh chỉ dừng lại ở những nguyên tắc chung muốn thực hiện đ¬ược phải có văn bản hư¬ớng dẫn thi hành.
- Cải tiến chất l¬ượng kỳ họp của Quốc hội, tăng cư¬ờng năng lực hoạt động của đại biểu Quốc hội, tăng c¬ường số l¬ượng đại biểu chuyên trách.
- Nâng cao chất l¬ượng hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội. Để thực hiện đ¬ược nhiệm vụ này, cần xác định rõ ràng, về nội dung giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của Chủ tịch n¬ước, Uỷ ban Th¬ường vụ Quốc hội, CP, Thủ t¬ướng CP, Toà án nhân dân tối cao, VKSND tối cao. Đồng thời đổi mới phương thức giám sát, xác định hậu quả pháp lý của giám sát tối cao.
- Thực hiện cải cách NHCQG (nền hành chính quốc gia)
Cải cách NHCQG là khâu trọng tâm của toàn bộ công cuộc cải cách BMNN đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ. Trong đó, cải cách thủ tục hành chính đ¬ược xác định là khâu đột phá. Mục tiêu đặt ra cho cải cách hành chính xét về tổng thể là nhằm chuyển từ một nền hành chính trì trệ, nhiều tầng, nhiều nấc, thủ tục hành chính phức tạp, không thuận tiện cho ng¬ười dân sang một nền hành chính gọn nhẹ, trong sạch, hiệu quả, phục vụ những nhu cầu của ng¬ười dân và xã hội một cách tốt nhất.
Thực hiện cải cách hành chính trên cả ba mặt: cải cách thể chế hành chính với trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, cải cách cơ cấu, tổ chức và quy chế hoạt động của hệ thống hành chính; hoàn thiện chế độ công vụ và quy chế công chức NN. Tiếp tục cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, thực hiện có hiệu qủa cơ chế " một cửa", tin học hoá các hoạt động quản lý hành chính.
Để có một nền hành chính năng động, hiệu qủa, tinh gọn, cần phải tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của CP, sắp xếp , thu gọn các đầu mối của CP. Đổi mới hoạt động của CP theo h¬ướng CP tập trung vào việc xây dựng chính sách, các thể chế, hoạch định chiến l¬ược phát triển kinh tế- xã hội, chỉ đạo và điều hành phối hợp các ngành, các cấp thực thi chính sách, PL.
Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền điạ phương, đẩy mạnh phân công, phân cấp, nâng cao tính chủ động, chịu trách nhiệm của chính quyền địa phư¬ơng đối với mọi mặt đời sống xã hội tại địa phư¬ơng. Tăng cường chế độ kiểm tra, giám sát, đánh giá các hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Tổ chức hợp lý HĐND, tăng cư¬ờng vai trò của HĐND tại địa ph¬ương. Kiện toàn các cơ quan chuyên môn của UBND và bộ máy chính quyền cấp xã.
Trong nền hành chính, yếu tố con ng¬ười là khâu then chốt. Cần xây dựng quy chế hoạt động công vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ. Thực hiện th¬ường xuyên công tác đào tạo, bồi d¬ưỡng nâng cao trình độ và kỹ năng thực hành chuyên môn của đôị ngũ cán bộ. Xây dựng cho đội ngũ cán bộ NN thói quen tuân thủ PL, áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, công tâm trong việc giải quyết công việc đối với ng¬ười dân, chịu trách nhiệm pháp lý về các quyết định và hành vi của mình.
- Thực hiện cải cách t¬ư pháp
Trong NNPQ và một xã hội công dân phát triển lành mạnh, vai trò của bộ máy t¬ư pháp đặc biệt quan trọng. Ngày 02/01/2002 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác t¬ư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49-NQ/TƯ năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Cải cách tư¬ pháp cần được tiến hành trong tổng thể cải cách của BMNN, cải cách hành chính. Nôị dung và các nguyên tắc cơ bản của cải cách tư¬ pháp ở nư¬ớc ta tập trung vào những lĩnh vực hoạt động sau:
- Xây dựng các cơ quan t¬ư pháp vững mạnh, trong sạch, từng bước hiện đại hoá. Hệ thống các cơ quan t¬ư pháp bao gồm: các Toà án nhân dân, các VKSND, các cơ quan điều tra; tổ chức luật sư, công chứng, giám định t¬ư pháp và các chức danh t¬ư pháp như¬ thẩm phán, luật s¬ư, công chứng viên, giám định viên…
- Nâng cao đạo đức nghề nghiệp của cán bộ t¬ư pháp trong công tác điều tra, gíam định, truy tố, xét xử, thi hành án và các hoạt động t¬ư pháp khác.
Tổ chức lại CQ điều tra, thi hành án theo nguyên tắc thu gọn đầu mối, thành lập cảnh sát t¬ư pháp.
- Đảm bảo nguyên tắc độc lập khi xét xử chỉ tuân theo PL của thẩm phán, hội thẩm nhân dân và một số hoạt động t¬ư pháp khác như¬ điều tra, truy tố. Để nâng cao tính độc lập của hoạt động tư¬ pháp nói chung, hoạt động xét xử nói riêng cần phải thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ như kiện toàn cơ cấu, tổ chức, cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, hoàn thiện các quy định PL; đào tạo bồi d¬ưỡng nghiệp vụ và nâng cao đạo đức nghề nghiệp…
- Các hoạt động tư¬ pháp phải đảm bảo tính dân chủ, giản tiện, minh bạch và hiệu quả. Hoạt động t¬ư pháp phải thực sự baỏ vệ đ¬ược các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
- Xử lý nghiêm minh, đúng PL, công bằng, kịp thời mọi hành vi vi phạm PL, giảm đến mức thấp nhất tình trạng oan, sai, tồn đọng các vụ việc.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống PL
Hoàn thiện hệ thống PL theo tiêu chí NNPQ là vấn đề rộng lớn, liên quan đến các lĩnh vực xây dựng PL, tổ chức thực hiện PL, phổ biến, giáo dục PL, xây dựng ý thức PL và văn hoá pháp lý.
Trong xây dựng PL cần chú ý đảm bảo cả về số l¬ượng vầ chất lượng các văn bản PL, cả PL về nội dung và PL về thủ tục. Hoàn thiện HTPL theo h¬ướng bảo đảm tính công bằng, minh bạch, tính khả thi của các quy định, tính đồng bộ và thống nhất của các văn bản, tính phù hợp giữa luật với các hình thức điều chỉnh khác. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa PL quốc gia với PL và thông lệ quốc tế.
Xây dựng chiến l¬ược phát triển khung PL nhằm tạo môi tr¬ường pháp lý thuận lợi, an toàn cho các hoạt động đầu tư¬, kinh doanh, khuyến khích các thành phần kinh tế cùng hợp tác phát triển, cạnh tranh lành mạnh.
Xây dựng khung PL phục vụ chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đảm bảo sự ghi nhận về nội dung và cơ chế thực thi các quyền, lợi ích chính đáng của công dân.
Tổ chức thực hiện PL, nâng cao chất l¬ượng hiệu quả hoạt động áp dụng PL của các cơ quan nhà n¬ớc có thẩm quyền, xây dựng môi trường xã hội- pháp lý thuận lợi cho những hành vi hợp pháp.
Đảm bảo thực hiện tính tối cao của luật. Trong hệ thống PL, các đạo luật phải chiếm ư¬u thế, điều đó phản ánh tính tối cao của quyền lực nhân dân bởi các đạo luật đ¬ược cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân ban hành, quy định những vấn đề quan trọng, cơ bản của xã hội.
Đảm bảo tính minh bạch, công khai của PL, NN phải đáp ứng nhu cầu thông tin về PL, về các hoạt động thực tiễn pháp lý cho cá nhân và tổ chức. Cần triển khai chiến l¬ược xây dựng ý thức PL và thực thi PL của các tầng lớp nhân dân.
Thứ ba, đổi mới hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội
Công cuộc cải cách BMNN ta trong giai đoạn hiện nay phải đ¬ược tiến hành song song, đồng bộ với việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị theo h¬ướng xây dựng NNPQ VN XHCN.
- ĐCSVN là lực lư¬ợng lãnh đạo NN và xã hội. Xây dựng NNPQ không thể tách rời với việc đổi mới hệ thống chính trị. Tr¬ước hết phải đổi mới tổ chức và hoạt động của Đảng, nâng cao vai trò, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, đổi mới ph¬ương thức lãnh đạo của Đảng đối với NN và xã hội.
-Tổ chức chính trị-xã hội là nơi triển khai thực hiện chính sách của Đảng, PL của NN. Vì vậy, các tổ chức chính trị- xã hội phải có bư¬ớc đổi mới về cơ cấu tổ chức, hình thức hoạt động để góp phần vào việc xây dựng thành công NNPQ.
- Dân chủ vừa là yếu tố cấu thành của NNPQ, vừa là mục tiêu vừa là động lực của NNPQ. Dân chủ còn là điều kiện cho sự tồn tại của NNPQ. Do đó, để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng NNPQ, cần thực hiện dân chủ hoá sâu sắc mọi mặt của đời sống NN, PL, xã hội. Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, xây dựng sự đồng thuận xã hội.
Câu 6
Phân tích khái niệm, đặc điểm, chức năng của CQHCNN? Theo anh, chị để nâng cao năng lực của CQHCNN cần áp dụng những giải pháp nào?
Trả lời:
1) Khái niệm
CQHCNN là một bộ phận của CQNN được NN thành lập, trao quyền, bảo đảm các điều kiện, phương tiện…để thực hiện chức năng chủ yếu là QLNN.
Cơ quan HCNN tạo thành một chính thể thống nhất, toàn vẹn, có quan hệ chặt chẽ khăng khít với nhau. Mỗi CQHCNN là một khâu, một mắt xích trong hệ thống.
- Tính thống nhất của HT các CQHCNN được QĐ bởi tính thống nhất về nghiệp vụ, chức năng QLNN- chức năng điều hành, chấp hành của chúng.
- HĐ của HT các CQHCNN được HP và PL quy định.
2) Đặc điểm của CQHCNN
1. Các cơ quan HCNN được thành lập để thực hiện chức năng QLHCNN, nghĩa là hoạt động chấp hành và điều hành. Hoạt động chấp hành và điều hành là hoạt động mang tính dưới luật, được tiến hành trên cơ sở HP, luật, pháp lệnh để thực hiện PL.
2. Hoạt động của cơ quan HCNN mang tính thường xuyên , liên tục, và tương đối ổn định, là cầu nối trực tiếp đưa đường lối chính sách , PL vào cuộc sống.
3. Các cơ quan HCNN là hệ thống rất phức tạp, có số lượng đông đảo nhất, có mối liên hệ chặt chẽ, tạo thành một hệ thống thống nhất từ Trung ương tới địa phương, cơ sở, chỉ đạo của một trung tâm thống nhất là CP.
4. Thẩm quyền của cơ quan HCNN chỉ giới hạn trong phạm vi chấp hành và điều hành.Thẩm quyền của các cơ quan HCNN chủ yếu được quy định trong các VBQPPL về tổ chức BMNN hoặc trong những quy chế…
5. Các cơ quan HCNN đều trực tiếp, hoặc gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực NN ,chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ quan quyền lực NN ở cấp tương ứng và chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực đó.
6. Hoạt động của cơ quan HCNN khác với hoạt động của cơ quan quyền lực, hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát và hoạt động xét xử của Toà án.
7. Hệ thống cơ quan HCNN có nghĩa vụ tổ chức bảo đảm quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của công dân bằng các chương trình kinh tế -xã hội và phân phối một cách công bằng cho mọi công dân.
3). Chức năng của CQHCNN
Theo HP 1992, HT các CQHCNN gồm có:
- CP (Điều 109);
- Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc CP;
- UBNDCC và các CQ chuyên môn thuộc UBND- CQHCNN ở địa phương;
a. CP - CQHCNN cao nhất
Điều 109 HP nước CHXHCNVN hiện hành quy định địa vị pháp của CP như sau:
“CP là cơ quan chấp hành của Quốc hội, CQHCNN cao nhất của nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa VN.
CP thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xó hội, quốc phũng, an ninh và đối ngoại của NN; bảo đảm hiệu lực của BMNN từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành HP và PL; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.
CP chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.”
Về tổ chức và hoạt động của CP được quy định tại chương II, Luật TCCP ngày 25-12-2001
b. Bộ, cơ quan ngang bộ
Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của CP, được thành lập và thực hiện chức năng chủ yếu là QLNN về ngành hoặc lĩnh vực.
Theo Điều 116 HP 1992 thì: "Bộ trưởng và các thành viên khác của CP chịu trách nhiệm QLNN về lĩnh vực, ngành mình phụ trách trong phạm vi cả nước, bảo đảm quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở theo quy định của PL".
Theo Điều 2 Nghị định 178/2007/NĐ-CP ngày 30/12/2007 của CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, CQ ngang Bộ (thay thế Nghị định 86/2002/NĐ-CP): Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của CP, thực hiện chức năng QLNN về các ngành, lĩnh vực được giao trong phạm vi cả nước; QLNN các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi QLNN của Bộ.
Phạm vi quản lý của bộ, ngành hoặc lĩnh vực được phân công gồm:
- HĐ của mọi tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội;
- HĐ của mọi tổ chức hành chính sự nghiệp thuộc cácc thành phần khác nhau và cơ quan trực thuộc chính quyền;
- HĐ của mọi công dân, mọi tổ chức, người nước ngoài trong lĩnh vực bộ quản lý.
c. CQHCNN ở địa phương
- UBND (Điều 123 HP 1992)
Thực hiện chức năng QLHCNN ở địa phương trên cơ sở nghị quyết của HĐND và quyết định của CQNN cấp trên trực tiếp;
Nhiệm vụ, quyền hạn được quy định trong Luật TC&HĐ của HĐND và UBND.
- Cơ quan chuyên môn thuộc UBND.
Ngày 4/2/2008 CP đã ban hành Nghị định số 13/2008/NĐ-CP về cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Nghị định số 14/2008/NĐ-CP về cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện là cơ quan tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện thực hiện chức năng QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện và theo quy định của PL.
Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên.
2. Các giải pháp hoàn thiện CQHCNN
a, Phương hướng, quan điểm về tiếp tục cải cách bộ máy hành chính
Để khắc phục các nhược điểm tồn tại và bất cập trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính sau một thời gian NN ta đã tiến hành cải cách hành chính, chúng ta cần xác định các phương hướng tiếp tục cải cách bộ máy hành chính một cách rõ ràng và cụ thể sau:
Thứ nhất, cần có một tầm nhìn chiến lược đối với cải cách bộ máy hành chính. Trong tầm nhìn này phải hướng tới tạo ra một mô hình cải cách quản lý hành chính công mới.
Thứ hai, tiến hành ra soát, làm thật rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương để loại bỏ những chồng chéo trùng lặp giữa các cơ quan hành chính vơi nhau và phân cấp rõ ràng, cụ thể hơn về thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cấp trong hệ thống bộ máy hành chính.
Thứ ba, trong thời gian tới, thực hiện được một cách căn bản việc chuyển đổi chức năng của hệ thống hành chính sang tập trung vào quản lý hành chính NN vĩ mô, tách chức năng này với chức năng quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh và sự nghiệp.
Thứ tư, phân biệt rõ chức năng, trách nhiệm, thẩm quyền của các CQHCNN trong hệ thống hành chính theo chiều dọc và theo chiều ngang.
Thứ năm, xác định rõ về mặt tổ chức các cơ quan có chức năng hoạch định chính sách, xây dựng PL với các cơ quan thực thi chính sách, PL.
Thứ sáu, thực hiện bước chuyển thực sự trong phân cấp giữa trung ương và địa phương, tạo quyền chủ động trong quản lý của chính quyền địa phương, đồng thời làm rõ trách nhiệm cảu các cấp trong hệ thống hành chính.
Thứ bảy, trong cải cách tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính cần phải phân biệt những vẫn đề có tính nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc làm rõ chức năng, trách nhiệm, thẩm quyền: Một việc chỉ giao cho một cơ quan quản lý và chịu trách nhiệm, việc phối hợp trách nhiệm với các cơ quan khác được giao cho chính cơ quan phụ trách công việc này.
- Nguyên tắc tách bạch cơ quan làm chính sách và cơ quan thực hiện chính sách: Hết sức tránh giao cho một cơ quan nhiệm vụ vừa nghiên cứu, xây dựng, ban hành chính sách, chế độ vừa thực thi vấn đề đó.
- Nguyên tắc thủ trưởng: Chỉ huy và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của cơ quan hành chính thuộc về người đứng đầu cơ quan đó.
- Nguyên tắc dân chủ: Mọi hoạt động của hệ thống hành chính đều nhằm vào việc bảo đảm, phát triển dân chủ và vì lợi ích của nhân dân.
- Nguyên tắc giám sát: Nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của CQHC.
b. Tiếp tục cải cách cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của CP
Chương trình Tổng thể cải cách hành chính của CP giai đoạn 2001-2010 ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng CP đề ra mục tiêu thiết lập: ”Cơ cấu tổ chức của CP gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô toàn xã hội bằng PL, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện”. Đây là những định hướng, mục tiêu hoàn toàn phù hợp.
- Cần nghiên cứu làm rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ của CP trong nền hành chính. Cụ thể là giải quyết mối quan hệ quản lý hành chính với Quốc hội, Chủ tịch nước, TAND tối cao và VKSND tối cao nhất là vấn đề quản lý biên chế và ngân sách.
- Phân định rõ quyền quyết định các vấn đề cơ bản của đất nước của Quốc hội với quyền quản lý các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội của CP; xác định rõ hơn vai trò của Chủ tịch nước trong quan hệ với CP; phân định chức năng công tố, thanh tra, kiểm sát giữa CP với Viện Kiểm sát.
- Tiếp tục nghiên cứu sắp xếp lại cơ cấu CP, số lượng thành viên CP, địa vị pháp lý, tổ chức của cơ quan khác thuộc CP (các ban, tổng cục còn lại), nhất là các cơ quan hoạt động sự nghiệp, cung ứng dịch vụ công.
- Phân định rõ hơn thẩm quyền giữa CP với Thủ tướng; giữa CP với các Bộ
c. Đổi mới cơ cấu tổ chức và hoạt động của Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc CP.
- Phương hướng đổi mới tiếp tục cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ những năm trước mắt cần quán triệt phương châm đã được nêu tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (2001): “Định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ theo hướng bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc, cung cấp dịch vụ công” và Chương trình Tổng thể cải cách hành chính của CP giai đoạn 2001-2010: ” Bộ máy các bộ được điều chỉnh về cơ cấu trên cơ sở phân biệt rõ chức năng, phương thức hoạt động của các bộ phận tham mưu, thực thi chính sách, cung cấp dịch vụ công”.
- Trên cơ sở khẳng định rõ ba chức năng chủ yếu của bộ là QLNN về ngành, lĩnh vực, đại diện chủ sở hữu tài sản NN tại doanh nghiệp và cung cấp dịch vụ công để phân định lại vị trí vai trò giữa bộ, cơ quan ngang bộ với các cơ quan thuộc CP không chỉ với cơ quan có chức năng QLNN (đẫ được chuyển đổi mạnh gần đây) mà cả với những cơ quan hoạt động sự nghiệp, cung cấp dịch vụ công theo hướng cũng phải chuyển về các bộ, để chỉ còn lại những cơ quan thuộc CP làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ phục vụ cho công việc quản lý vĩ mô của CP.
- Tiếp tục cải cải cách cơ cấu tổ chức của các Bộ, cơ quan ngang bộ có các cơ cấu như vụ, cục, tổng cục với số lượng khá lớn.
- Thống nhất, ổn định, quy định chức năng thảm quyền rõ ràng đói với việc sắp xếp, điều chuyển các cơ quan thuộc CP (các tổng cục) về các bộ.
- Khắc phục lề lối làm việc lề mề, qua quá nhiều khâu, nhiều nấc và thiếu quyết đoán trong các CQHCNN các cấp như đã nêu ra ở trên. Giảm bớt số lượng Thứ trưởng và bảo đảm thực hiện đúng chức năng của Thứ trưởng là giúp Bộ trưởng chứ không phải phân chia các mặt công tác để phụ trách như hiện nay dẫn đến sự phân tán. Áp dụng cơ chế làm việc trực tiếp với các chuyên viên.
d. Đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính NN ở địa phương
- Hoàn thiện tổ chức Uỷ ban nhân dân trên cơ sở mô hình tổ chức hiện hành
+ Xác định lại tính chất và các mối quan hệ của Uỷ ban nhân dân với Hội đồng nhân dân và với các CQNN cấp trên
+ Hoàn thiện cách thức thành lập Uỷ ban nhân dân.
+ Đổi mới cơ cấu thành phần và tổ chức của Uỷ ban nhân dân.
+ Phân định cụ thể và đầy đủ chức trách giữa tập thể và cá nhân và giữa các cá nhân trong Uỷ ban nhân dân.
- Nghiên cứu tổ chức lại cơ quan hành chính ở một số cấp
- Hoàn thiện tổ chức các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân
+ Xác định vị trí, chức năng của các cơ quan chuyên môn là bộ máy giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý một hoặc nhiều ngành, lĩnh vực ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành và lĩnh vực ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến địa phương, cơ sở.
+ Thiết kế các mô hình các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân theo hướng giảm thiểu các cơ quan chuyên môn.
Câu 7.
Phân tích vai trò của Luật hành chính đối với HĐQLNN trong công cuộc cải cách HCNN ở nước ta? Nêu các giải pháp để LHC được thực hiện có hiệu lực, hiệu quả trênt thực tế. Liên hệ ngành, địa phương nơi anh, chị công tác?
II. PHẦN PHÁP LUẬT
Câu 1
Nhận xét về PL tư sản, C. Mác viết: "PL của các ông chẳng qua cũng là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành luật, mà nội dung ý chí đó là do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định".
Anh(chị) hãy: Phân tích và liên hệ thực tiễn PL VN để làm sáng tỏ nhận định trên.
Trả lời:
Nhận xét trên của C.Mác là đề cập tới bản chất của PL và nhấn mạnh tính giai cấp của PL.
- Bản chất PL là một thể thống nhất bao gồm hai ph¬ương diện cơ bản: phương diện giai cấp và ph¬ương diện xã hội hay thường đ¬ược gọi là tính giai cấp và tính xã hội. Hai ph¬ương diện này có quan hệ mật thiết, phụ thuộc, tác động lẫn nhau và cả hai đều mang tính tất yêú khách quan.
- Do những điều kiện khách quan và chủ quan, sự thể hiện và thực hiện tính giai cấp và tính xã hội của PL có khác nhau trong các kiểu NN, trong các giai đoạn phát triển của mỗi một NN. Theo đó tính giai cấp của PL th¬ường đ¬ược thể hiện một cách công khai, quyết liệt trong các NN chiếm hữu nô lệ, NNPK.
Trong các xã hội đ¬ương đại, PL cũng thể hiện tính giai cấp của mình, đồng thời theo xu h¬ướng chung, tính xã hội, tính nhân loại ngày càng thể hiện rõ nét hơn.
- PL không chỉ là công cụ quản lý, cần thiết của NN và còn là công cụ của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Đó chính là vai trò, giá trị đích thực của PL. Sự phát triển của xã hội hiện đại đang dần dần trả lại vị thế, vai trò, công năng đó của PL. Qúa trình dân chủ hoá dời sống xã hội trong đó có đời sống chính trị - pháp lý sẽ xác lập, nâng cao hơn tính xã hội của PL.
Bản chất của PL là vấn đề thuộc về những dấu hiệu bên trong của PL, những mục đích điều chỉnh PL, PL đó bảo vệ lợi ích của ai…? PL ngoài việc thể hiện ý chí NN của giai cấp thống trị, là công cụ của NN ra còn có vai trò và giá trị xã hội to lớn, không chỉ là sản phẩm thuần tuý của NN. PL thể hiện các giá trị đã được kết tinh từ truyền thống, văn hoá, đạo đức dân tộc và nhân loại…
- Tính giai cấp của PL
Tính giai cấp của PL thể hiện ở sự phản ánh ý chí NN của giai cấp thống trị xã hội trong hệ thống các văn bản PL, các loại hoạt động áp dụng của NN. C,Mác và Ph.Ăngghen đã viết về PL t¬ư sản: "PL của các ông là ý chí của giai cấp các ông đ¬ược đề lên thành luật, cái ý chí mà nội dung là do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định". Nội dung của PL tức là ý chí NN được quy định bởi các điều kiện sinh hoạt vật chất, các yếu tố kinh tế và phi kinh tế. Cần có quan điểm khách quan, toàn diện về PL, không tuyệt đối hoá vai trò của các yếu tố kinh tế trong đời sống PL và NN.
PL điều chỉnh các quan hệ xã hội, định h¬ướng cho các quan hệ xã hội phát triển theo những mục đích, đ¬ường lối phát triển cho phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị và những điều kiện khách quan của đất n¬ước. PL đ¬ương nhiên không phải là cấp số cộng giản đơn tất cả các lợi ích, nhu cầu của mọi cá nhân trong giai cấp thống trị mà là những lợi ích tiêu biểu, cơ bản và được chọn lọc, thông qua NN "đề lên thành luật".
- PL của bất kỳ NN nào cũng mang tính giai cấp sâu sắc, như¬ng mức độ, cách thức thể hiện và trong thực tế tính giai cấp không hoàn toàn giống nhau trong các kiểu PL và ngay cả trong một NN, vào những thời điểm khác nhau.
+ PL chủ nô công khai xác nận quyền lực tuyệt đối, vô hạn của chủ nô và tình trạng vô quyền của người nô lệ như¬ là những "công cụ biết nói"trong xã hội.
+ PL phong kiến vẫn đ¬ược coi là PL "quả đấm" với hệ thống những quy định, chế tài trừng phạt dã man, vô nhân đạo, bảo vệ công khai lợi ích của giai cấp địa chủ, phong kiến.
+ PL t¬ư sản mặc dù là một bư¬ớc tiến bộ, phát triển v¬ượt bậc so với các kiểu PL trư¬ớc đó cả về nội dung và hình thức, song nó vẫn là công cụ bảo vệ lợi ích giai cấp t¬ư sản tr¬ước hết.
Bản chất của PL tư¬ sản
PL t¬ư sản ra đời cùng với NN tư sản trong cách mạng tư sản. Bản chất PL tư¬ sản đ¬ược quy định bởi cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội, nhiệm vụ, mục tiêu của NN tư sản và được thể hiện ở tính chất giai cấp và tính chất xã hội của PL tư sản.
- PL t¬ư sản mang tính chất giai cấp sâu sắc vì nó do giai cấp tư¬ sản tạo ra thông qua NN tư¬ sản và luôn luôn thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư¬ sản.
Trong "Tuyên ngôn Đảng cộng sản" (năm 1848), Mác và Ăng ghen đã chỉ ra rằng PL t¬ư sản là ý chí của giai cấp tư sản được đưa lên thành những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, cái ý chí mà mà nội dung của nó do những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội tư¬ bản chủ nghĩa quyết định.
+ Giai cấp t¬ư sản sử dụng PL của mình nh¬ư là một công cụ có hiệu lực nhất để đàn áp, bóc lột giai cấp công nhân, nhân dân lao động; duy trì, bảo vệ sự thống trị của mình về kinh tế, chính trị , tư t¬ưởng trong xã hội tư bản chủ nghĩa.
+ Qua các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư¬ bản, NN tư sản và PL tư¬ sản thì tính chất giai cấp của PL tư sản cũng có những biểu hiện khác nhau.
*Ở giai đoạn tự do cạnh tranh và hình thành các thiết chế của nền dân chủ tư sản (từ các cuộc cách mạng tư sản đến năm 1 87 1), tính chất giai cấp của PL tư sản thể hiện một cách kín đáo, nhẹ nhàng và khó nhận biết.
*Trong giai đoạn chủ nghĩa t¬ư bản độc quyền - NN , rồi sau đó là chủ nghĩa đế quốc ( 1 87 1 - 1 9 1 7 ) và nhất là thời kỳ đầu thuộc giai đoạn thứ ba (từ năm 1 9 1 7 đến nay) - thời kỳ tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản (1917-1945) , tính chất giai cấp của PL tư sản thể hiện một cách công khai, mạnh mẽ, quyết liệt mà minh chứng là những đạo luật phản động, phản dân chủ.
* Trải qua 60 năm, kể từ sau cuộc tổng khủng hoảng của chủ nghĩa t¬ư bản và kết thúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai (năm 1945) đến nay, trên thế giới nói chung và trong các nư¬ớc tư¬ bản chủ nghĩa nói riêng đã xảy ra biết bao sự kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, . . . quan trọng, làm biến đổi sâu sắc và toàn diện bộ mặt của thế giới và của các nước t¬ư bản chủ nghĩa, tác động và ảnh h¬ởng tích cực tới NN tư sản và PL tư sản. Bởi vậy, tính chất giai cấp của PL tư¬ sản có xu hướng quay trở về giai đoạn đầu của chủ nghĩa t¬ư bản, nhưng với mức độ tinh vi, khéo léo, tinh tế và uyển chuyển hơn.
- Liên hệ với thực tiễn PL VN
Bản chất PL VN XHCN đ¬ược thể hiện ở tính giai cấp, tính xã hội và tính nhân loại.
PL có vai trò hàng đầu trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, các giá trị và vai trò của PL chỉ có thể đảm bảo, phát huy trong sự kết hợp chặt chẽ với các phương tiện điều chỉnh xã hội khác.
Trong quá trình điều chỉnh hành vi và các quan hệ xã hội của con người, PL XHCN có mối quan hệ biện chứng với các hiện tượng xã hội quan trọng khác như chính trị, kinh tế; văn hoá, đạo đức, tôn giáo; tập quán, NN v.v. . .
Ngay từ sự ra đời và trong suốt quá trình phát triển, PL XHCN th¬ường xuyên tiếp nhận, kế thừa chọn lọc những giá trị văn hoá pháp lý của nhân loại . Sự kế thừa này đ¬ược thể hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống PL nh¬ các tư¬ t¬ởng pháp lý tiến bộ, kỹ thuật pháp lý, hoạt động xây dựng PL; cách thức áp dụng PL; phư¬ơng pháp đưa thông tin PL vào cuộc sống v. v. .
Đối với VN, trong suốt sáu m¬ươi năm qua, hệ thống PL không ngừng được đổi mới , hoàn thiện, thể hiện đậm nét tính dân tộc, tính định hư¬ớng XHCN và tính thời đại.
PLXHCNVN là hệ thông các quy tắc xử sự ( sự thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân lao động, do NN ban hành (hoặc thừa nhận), có tính bắt buộc chung, được NN đảm bảo thực hiện trên cơ sở kết hợp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế, thu hút sự tham gia tích cực của toàn xã hội vào hoạt động xây dựng và thực hiện PL, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục tiêu dân giàu, nư¬ớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh .
* Những đặc điểm cơ bản của PL VN XHCN
Bản chất PL VN XHCN được thể hiện đậm nét ở các đặc điểm cơ bản sau đây:
- Mang tính nhân dân sâu sắc
PL VN XHCN mang tính nhân dần sâu sắc. PL thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và những ngư¬ời lao động khác. Với tư¬ cách là kiểu lịch sử PL mới, PL XHCN có đặc điểm bản chất khác biệt căn bản với các kiểu PL khác ở tính nhân dân sâu sắc.
Về bản chất của PL XHCN, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết "PL thực sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động".
Tính nhân dân của PL nư¬ớc ta được thể hiện trong hệ thống các văn bản PL, trong hoạt động áp dụng PL, phổ biến và giáo dục PL.
Trong thời kỳ đổi mới đất nư¬ớc, NN ta thực hiện nhiều hình thức để thu hút sự tham gia của các tầng lớp nhân dân vào hoạt động xây dựng PL để các quy định PL ngày càng phù hợp với cuộc sống. Hoạt động xây dựng PL những năm gần đây thực sự đã và đang đ¬ược đổi mới cả về nội dung, hình thức, cách thức xây dựng. Các quyền, lợi ích chính đáng của ngư¬ời dân đã đ¬ược ghi nhận và có cơ chế bảo đảm, bảo vệ hữu hiệu hơn.
- Hoạt động kiểm tra, giám sát thi hành PL cũng đ¬ược quan tâm hơn, thông qua đó góp phần tích cực vào việc phát hiện những quy định PL bất cập, gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích chính đáng của người dân và kịp thời sửa đổi, bổ sung.
- Khẳng định đ¬ường lối phát triển kinh tế thị tr¬ường có sự điều tiết của NN theo định h¬ướng XHCN.
Đại hội IX của ĐCSVN trên cơ sở tổng kết thực tiễn đổi thới đất nước, tác động của quá trình chuyển đổi nền kinh tế, xã hội đã khẳng định về tính chất, đặc điểm của kinh tế thị trường định hư¬ớng XHCN ở VN. Để xây dựng nền kinh tế thị tr¬ường định hư¬ớng XHCN, không thể thiếu đ¬ược vai trò quản lý của NN bằng một hệ thống PL và các công cụ quản lý khác .
Trong những năm qua, NN đã xây đựng, ban hành nhiều văn bản PL có chất lượng cao, về cơ bản đã tạo dựng được khung PL phục vụ cho việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, từng b¬ước thay thế cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mệnh lệnh hành chính bao cấp, hiện vật trư¬ớc đây, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động kinh tế của xã hội. Nhờ vậy, đã tạo lập được hành lang pháp lý cho việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xác định chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, th¬ương gia, quyền tự do kinh doanh, quyền tự do hợp đồng, các cơ chế khuyến khích và bảo đảm đầu tư¬, giảm dần sự can thiệp của CQNN bằng các biện pháp hành chính vào các quan hệ dân sự, kinh tế, thư¬ơng mại.
Bên cạnh những thành tựu, ư¬u điểm và tác động tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội, hệ thống các văn bản PL về kinh tế nói riêng còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, nhất là trong các quy định PL về thủ tục về cơ chế thực thi PL.
- Tính cư¬ỡng chế NN trong PL
Với t¬ư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội đặc biệt quan trọng, do NN ban hành, xuất phát từ thực tiễn xã hội, PL n¬ước ta tất yếu được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cư¬ỡng chế NN. PL XHCN tuy mang tính cư¬ỡng chế, như¬ng tính cư¬ỡng chế đó đã chứa đựng những nội dung mới, khác với cưỡng chế trong các kiểu PL bóc lột. Do nội dung của PL XHCN phù hợp với ý chí, lợi ích của nhân dân nên có điều kiện được người dân thực hiện một cách tự giác. Các biện pháp cưỡng chế được áp dụng đối với những người vi phạm PL trên cơ sở kết hợp giáo dục , thuyết phục , thu hút sự tham gia của xã hội vào cuộc đấu tranh phòng, chống các vi phạm PL, giúp đỡ những ng¬ười vi phạm PL trở thành các công dân tốt cho xã hội.
Các biện pháp c¬ưỡng chế NN có mục đích xử lý nghiêm minh những ng¬ười có hành vi vi phạm PL, giáo dục, cải tạo họ thành những ngư¬ời lao động l¬ương thiện. Các biện pháp cư¬ỡng chế NN được áp dụng không nhằm mục đích gây đau đớn, dày vò về thể xác, xúcphạm đến nhân phẩm, danh dự của con người. Hiệu quả áp dụng các biện pháp cư¬ỡng chế trong PL không chỉ phụ thuộc vào chính bản thân các biện pháp đó mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác như¬ tính hợp lý, mức độ răn đe, công tác giáo dục đạo đức, PL, dư¬ luận xã hội. Cần th¬ường xuyên thăm dò, nghiên cứu dư luận xã hội về việc áp dụng các chế tài xử lý vi phạm để từ đó có sự thay đổi, bổ sung cho phù hợp.
- Cơ sở đạo đức và tính dân tộc của PL VN
Tính dân tộc của PLVN có mối quan hệ mật thiết với văn hoá, đạo đức, phong tục, tập quán.
- Đạo đức truyền thống dân tộc và những giá trị, nguyên tắc đạo đức tiến bộ nhân loại là cơ sở của PL VN XHCN. Về cơ bản, giữa chúng không có sự đối lập nào. Các tư¬ tưởng và qui tắc đạo đức tiến bộ luôn là cơ sở cho PL XHCN. Đến lượt mình, PL lại củng cố và truyền bá các giá trị đạo đức đó Từ HP đến các văn bản PL khác đều ghi nhận, bảo vệ các quan điểm, chuẩn mực đạo đức truyền thống.
Xu h¬ướng chung là PL n¬ước ta càng ghi nhận nhiều hơn các quy tắc đạo đức . xử Sự theo những quan điểm, chuẩn mực đạo đức truyền thống dân tộc đã đ¬ược Bộ Luật Dân sự ghi nhận thành nguyên tắc pháp lý mà các chủ thể phải tuân theo trong các giao dịch dân sự:
+ Tự do giao kết hợp đồng nh¬ưng không đư¬ợc trái PL và đạo đức xã hội ;
+ Tự nguyện , bình đẳng , thiện chí, hợp tác , trung thực và ngay thẳng. . .
- Tương tự, trong các quan hệ lao động, Bộ luật lao động cũng quy định nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm, tính trung thực giữa ngư¬ời lao động và người sử dụng lao động.
PL chỉ có thể thực hiện đ¬ược vai trò là phương tiện điều chỉnh hàng đầu nếu nh¬ư có sự hỗ trợ của các quy phạm xã hội khác, đặc biệt là đạo đức truyền thống và đạo đức tiến bộ. Các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức luôn là tiêu chí tác động đến nội dung của các quy phạm PL,đ¬ược tính đến khi xem xét các vấn đề pháp lý và ngược lại :trong từng vấn đề của đạo đức đều phải xem xét cả về phư¬ơng diện pháp lý.
Đồng thời PL còn có mối quan hệ mật thiết với các loại quy tắc xã hội khác như¬ phong tục, tập quán, truyền thống. .. Khi áp dụng PL, muốn đ¬ược công bằng và đầy đủ, cần phải đ¬ược bổ sung bằng tục lệ,tập quán. PL VN bảo vệ những phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời cũng có những quy định nhằm ngăn cản, hạn chế và loại trừ dần những tập tục lạc hậu, phản tiến bộ như¬ tệ đa thê, tảo hôn, nghi là ma lai…
- PL là hình thức thể hiện đ¬ường lối, chính sách của ĐCSVN .
ĐCSVN là lực l¬ượng duy nhất lãnh đạo NN và xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với tiến trình phát triển của xã hội chỉ có thể đ¬ợc thực hiện thôngqua nhà n¬ớc bằng một hệ thống PL. Trên cơ sở đ¬ường lối, chính sách của Đảng, NN ta có nhiệm vụ thể chế hoá thành các quy định PL để đ¬ưa đư¬ờng lối đó vào cuộc sống.
- Phạm vi điều chỉnh của PL VN XHCN.
PL có phạm vi điều chỉnh rộng.
- Các nền PL trư¬ớc như chủ nô, phong kiến có phạm vi điều chỉnh hẹp, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực hành chính - chính trị với mục đích bảo vệ, củng cố nền thống trị của thiểu số giai cấp bóc lột, duy trì sự bất bình đẳng trong xã hội.
- Pháp luật của NNCHXHCNVN hiện nay có phạm vi điều chỉnh rộng; không những chỉ quy định về tổ chức bộ máy và hoạt động của các CQNN mà còn quy định các quyền và nghĩa vụ công dân trong tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội, quy định những vấn đề về quản lý lao động, kiểm tra, thống kê. Nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội mới xuất hiện đã kịp thời có các văn bản PL điều chỉnh nh¬ư về bảo vệ môi trường, thị trườngchứng khoán, các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nư¬ớc ngoài v.v. . .
Câu 2
Trình bày quan niệm về PL và phân tích vai trò của PL với hoạt động QLNN. Theo anh (chị) để tăng cường hiệu quả hoạt động QLNN hệ thống PL nước ta được hoàn thiện theo hướng nào? tại sao?
Trả lời:
1)Quan niệm về PL
PL xuất hiện như một tất yếu khác quan
- Vào cuối giai đoạn phát triển của xã hội nguyên thuỷ, do sự phát triển của lực lượng sản xuất đã lần lượt đưa đến 3 lần phân công lao động xã hội lớn, chế độ tư hữu được hình thành và cùng với nó là sự phân chia xã hội thành giai cấp đối lập nhau về quyền lợi. Các tập quán, quy tắc xã hội nguyên thuỷ vẫn còn tồn tại song rất nhiều trong số đó đã trở nên bất lực, không đủ sức điều chỉnh các quan hệ xã hội trong những điều kiện mới giữa các giai cấp đối kháng nhau về quyền lợi.
- Trong tình hình đó, xuất hiện nhu cầu bức xúc là phải hình thành một hệ thống quy tắc xử sự mới thể hiện ý chí và bảo vệ quyền lợi giai cấp thống trị. PL ra đời chính là đáp ứng nhu cầu đó.
- PL ra đời không chỉ thuần tuý từ nhu cầu cai trị của NN, không chỉ là công cụ bảo vệ giai cấp thống trị mặc dù đó là phần chủ yếu. PL xuất hiện còn để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội của con người, củng cố, xác lập trật tự xã hội, thiếu trật tự đó, không một cộng đồng, một xã hội nào có thể tồn tại được.
Tiền đề xã hội của PL nằm ngay trong chính các phương thức điều chỉnh quan hệ xã hội, quản lý xã hội tiền giai cấp, đặc biệt từ các quy tắc đạo đức, tập quán, tín ngưỡng có từ xã hội nguyên thuỷ.
Hệ thống quy phạm PL do NN xây dựng bằng hai con đường:
Thứ nhất, một mặt giai cấp thống trị thông qua BMNN cải tạo, sửa chữa các quy tắc phong tục, tập quán đạo đức sẵn có cho phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị và các quy tắc đó trở thành PL.
Thứ hai, bằng BMNN của mình, giai cấp thống trị đặt ra thêm các quy phạm mới, dùng quyền lực buộc mọi thành viên xã hội phải tuân theo nhằm duy trì một trật tự xã hội trong vòng trật tự của giai cấp thống trị, đồng thời bảo vệ lợi ích, củng cố sự thống trị của chúng đối với xã hội.
Tóm lại, PL là một hiện t¬ượng xã hội khách quan, đặc biệt quan trọng nhưng cũng vô cùng phức tạp chính vì vậy mà từ x¬a đến nay đã có không ít những cách quan niệm, nhận thức khác nhau về PL. Trên bình diện phổ quát, căn bản nhất và vận dụng vào điều kiện xã hội đương đại, có thể nêu định nghĩa PL như sau:
PL là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do NN đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí NN của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, đ¬ược đảm bảo thực hiện bằng NN nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội.
b). Vai trò của PL đối với QLNN
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n¬ước, xây dựng NNPQ, hội nhập quốc tế, PL nước ta ngày càng thể hiện rõ vai trò to lớn, là công cụ điều chỉnh hàng đầu các quan hệ xã hội. PL là công cụ của NN để quản lý xã hội, công cụ hư¬ớng dẫn và bảo đảm, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân.
Như¬ng cần nhận thức, vận dụng công cụ PL như¬ thế nào cho đúng đắn để khai thác, phát huy hiệu lực, hiệu quả điều chỉnh quan hệ xã hội của PL lại là điều không đơn giản. Một trong những biểu hiện sai lệch ở đây là hoặc quá c¬ường điệu hoá, tuyệt đối hoá vai trò của PL, hoặc hạ thấp vai trò của PL. Trong điều kiện xây dựng NNPQ, tuy có vai trò là công cụ điều chỉnh hàng đầu các quan hệ xã hội, song PL chỉ có thể phát huy đ¬ược sức mạnh của mình khi kết hợp với các công cụ điều chỉnh khác, đặc biệt là đạo đức. Nhận thức, vận dụng đúng đắn, khách quan về vai trò của PL có tầm quan trọng đặc biệt trong quản lý xã hội ở n¬ước ta hiện nay.
Vai trò của PL đối với QLNN được thể hiện cụ thể:
Thứ nhất, NN sử dụng PL để quản lý xã hội
NN sử dụng nhiều loại công cụ, biện pháp khác nhau để quản lý xã hội, nhưng PL là công cụ chủ yếu và quan trọng nhất. Sở dĩ như vậy là vì, PL thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, có tính bắt buộc chung và được NN đảm bảo thực hiện. Chính vì vậy, PL có khả năng triển khai một cách nhanh chóng nhất, đồng bộ và có hiệu quả trên quy mô toàn quốc những chủ trươngchính sách của Đảng. NN quản lý nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường nên nhất thiết phải có hệ thống PL để quy định quyền tự do kinh doanh theo PL, xử lý những hành vi kinh doanh trái PL và đạo đức xã hội, thực hiện công bằng trong sản xuất phân phối.
Thứ hai, PL là ph¬ương tiện tổ chức và hoạt động QLNN của NN
+ PL định giới hạn cho phép hay không cho phép, đảm bảo sự kiểm soát đối với QLNN.
+ Bằng PL mà quy định địa vị pháp lý - hành chính của các chủ thể trong hoạt động QLNN.
+Nhờ có PL mà các cơ quan QLNN thực hiện được các nhiệm vụ, chức năng, các chính sách đối nội và đối ngoại của mình, xác định quy chế pháp lý hành chính đối với các cá nhân, tổ chức.
Điều 12 HP năm 1992 đã ghi nhận : "NN quản lý xã hội bằng PL và không ngừng tăng cư¬ờng pháp chế XHCN".
Thứ ba, PL là ph¬ương tiện xác lập mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước với tổ chức, cá nhân .
+ PL là phư¬ơng tiện thực hiện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khỏi sự xâm phạm của người khác, kể cả từ phía cơ quan QLNN.
+ Bằng các biện pháp của QLNN như thuyết phục, giáo dục, tổ chức; cưỡng chế, kết hợp sự tự giác tuân thủ của các cá nhân, tổ chức, các biện pháp xã hội khác, các quy định PL mới đi vào cuộc sống.
Tuy có mối liên hệ mật thiết, song NN và PL vẫn là hai hiện t¬ượng xã hội có tính độc lập tương đối, không nên đồng nhất, lấy NN thay cho PL hoặc ngược lại.
Thứ tư, PL là công cụ quan trọng trong QLNN về kinh tế
Kinh tế quyết định PL, PL phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, đồng thời PL có tác động trở lại đối với kinh tế.
PL nư¬ớc ta một mặt ghi nhận những yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường, tạo lập hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế đa dạng của toàn xã hội, mặt khác có tác động mạnh mẽ trở lại đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trương.
Sự tác động tích cực hay tiêu cực của PL phụ thuộc vào chất lượng của các quy định PL và sự áp dụng các quy định PL trong thực tiễn.
Trong những năm đổi mới đất n¬ước vừa qua, xét trên bình diện tổng thể, PL đã có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Đơn cử, Luật Doanh nghiệp đã có vai trò to lớn trong việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng tr¬ước PL của mọi thành phần kinh tế, tạo bước đột phá về đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, thu hút sự đầu t¬ư tạo việc làm cho người lao động v. v. . .
Tuy vậy, trong lĩnh vực kinh tế, cũng còn nhiều quy định PL bất cập, ch¬ưa phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của phát triển kinh tế thị trường. Trong áp dụng PL, cơ chế quản lý các hoạt động kinh doanh, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm PL cũng còn nhiều yếu kém, sơ hở, chưa kịp thời nên chư¬a phát huy đ¬ược hiệu lực và hiệu quả của PL.
Cơ chế thị tr¬ường mang tính khách quan song nếu để tự phát sẽ không giải quyết được tăng trưởng kinh tế và các mục tiêu xã hội. Bằng PL tạo dựng môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển, điều tiết thu nhập, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh theo PL; xử lý tranh chấp kinh tế, bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo PL.
PL là công cụ chủ yếu trong quản lý kinh tế của NN, tạo lập hành lang pháp lý an toàn cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, bảo đảm kỷ cương xã hội, lợi ích cá nhân, cộng đồng doanh nghiệp và xã hội. PL có vai trò thúc đẩy, hỗ trợ, phát huy những mặt tích cực của kinh tế thị tr¬ường. PL có vai trò to lớn để hạn chế những mặt trái, tiêu cực vốn có của nền kinh tế thị trường như độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh, thất nghiệp, suy thoái tài nguyên, môi tr¬ường. . .
Thứ năm, PL là công cụ để NN quản lý và giải quyết các vấn đề xã hội
Bên cạnh vai trò to lớn đối với kinh tế, PL còn có vai trò to lớn, công cụ điều chỉnh đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực các vấn đề xã hội. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị tr¬ường, mở cửa giao lư¬u quốc tế như¬ hiện nay, vai trò của PL đối với các vấn đề xã hội lại ngày càng gia tăng.
PL là hình thức chủ yếu để thực hiện chức năng xã hội của NN. Hiểu theo nghĩa rộng, PL về các vấn đề xã hội là tổng hợp các quy phạm PL điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực lao động, việc làm, bảo đảm xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế, trật tự, an toàn xã hội , dân số, môi tr¬ường v.v…
Những văn bản PL tiêu biểu trong lĩnh vực này nh¬ư: Bộ luật Lao động, Bộ luật Hình sự; Luật Giáo dục, Luật Bảo vệ di sản văn hoá dân tộc; Pháp lệnh ưu đãi ngư¬ời có công v.v... Hệ thống PL về các vấn đề xã hội th¬ờng xuyên đ¬ược đổi mới, đã tạo lập cơ sở pháp lý để từng bước thực hiện công bằng xã hội, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, phát triển khoa học, công nghệ, giải quyết các chính sách về ư¬u đãi cứu trợ xã hội; bảo vệ môi trường, phòng chống vi phạm PL.
Thứ sáu, PL trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân
PL là ph¬ương tiện ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
- Mọi hành vi xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp, lợi ích chính đáng của công dân đều bị xử lý nghiêm minh.
- PL không chỉ quy định các quyền, nghĩa vụ pháp lý của công dân mà còn quy định cơ chế pháp lý- hành chính, các quy định PL thủ tục để thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân. Các quyền và lợi ích chính đáng của công dân đ¬ược PL quy định, bảo vệ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ xã hội.
Công cuộc cải cách mạnh mẽ BMNN mà trọng tâm là cải cách NHCQG, thủ tục hành chính đều hướng đến mục tiêu bảo vệ một cách tốt nhất các quyền và lợi ích chính đáng của công dân.
Thứ bảy, vai trò của PL đối với việc thực hiện dân chủ XHCN, thu hút nhân dân tham gia hoạt động QLNN.
PL là ph¬ương tiện ghi nhận và bảo đảm thực hiện dân chủ với các hình thức phong phú của dân chủ trong điều kiện đổi mới đất nước hiện nay. Cần nhận thức rõ mối quan hệ giữa dân chủ và PL, vai trò của PL đối với dân chủ và ngược lại.
Sự mở rộng dân chủ, động lực của công cuộc đổi mới đã và đang đặt ra các yêu cầu mới cho PL. PL phải quy định rõ ràng, minh bạch vấn đề quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức trong dân chủ hoá các lĩnh vực hoạt động của cá nhân và xã hội.
Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ c¬ương, phải được thể chế hoá bằng PL và được PL đảm bảo. . .quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm. Dân chủ không thể thực hiện được nếu thiếu PL. Dân chủ là động lực, mục tiêu và tiền đề hoàn thiện của PL. Trên cơ sở đóng góp ý kiến của nhân dân, chất l¬ượng và hiệu quả các quy định PL ở nước ta ngày càng được nâng cao.
Thứ tám, vai trò của PL đối với việc nâng cao tính tự quản của cộng đồng trong việc sử dụng các quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán và các loại quy phạm xã hội khác để quản lý xã hội
Vì cùng tham gia điều chỉnh hành vi và các quan hệ xã hội của con người nên giữa PL và các quy phạm xã hội luôn có mối quan hệ biện chứng, tác động mạnh mẽ đến nhau.
- PL và đạo đức
PL và đạo đức có mối quan hệ biện chứng vì cùng tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội. Thực tiễn đã chứng 'minh, PL và đạo đức chỉ có thể phát huy đ¬ược vai trò của mình khi sử dụng kết hợp chặt chẽ, hợp lý với nhau.
+Đạo đức là cơ sở của PL và cũng là điều kiện thực hiện PL.
+Ng¬ược lại, đạo đức muốn được giữ gìn, củng cố phải sử dụng công cụ PL với vai trò ghi nhận và bảo vệ.
Trong điều kiện nền kinh tế thị tr¬ường, vai trò của PL đối với đạo đức và ngược lại ngày càng gia tăng. Xử sự theo PL, phù hợp với đạo đức xã hội đã trở thành nguyên tắc PL. Xu hư¬ớng hiện nay là PL ngày càng ghi nhận nhiều hơn các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức truyền thống và đạo đức tiến bộ.
Quy phạm đạo đức có vai trò làm định hướng cho nhà làm luật trong việc xác định tội phạm hoá hay phi tội phạm hoá các hành vi. PL của NN ta là một trong những hình thức bảo vệ, phát huy đạo đức, tạo điều kiện cho sự hình thành những quan niệm mới những chuẩn mực đạo đức mới, tiến bộ loại bỏ dần những quan niệm đạo đức cũ tiêu cực.
- PL và tập quán, phong tục, các loại quy phạm xã hội khác PL có vai trò to lớn trong việc giữ gìn, phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp của các dân tộc n¬ước ta. HP, các văn bản PL khác đã quy định các tiền đề cho việc áp dụng và phát huy những mặt tích cực của tập quán, phong tục, truyền thống, trong đó có Luật tục, Hương ¬ớc. Đồng thời PL cũng có những quy định ngăn cấm thực hiện các tập quán lạc hậu, phản tiến bộ. PL quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc c¬ưới, việc tang, lễ hội, nghiêm cấm việc áp dụng những tập tục lạc hậu, vận động nhân dân bỏ dần những tập tục r¬ườm rà, mê tín dị đoan gây lãng phí, thực hành tiết kiệm.
c. Phương hướng hoàn thiện và phát triển của PL VN
Các xu hư¬ớng pháp triển cơ bản phải được thể hiện trong hoạt động xây dựng, ban hành PL, thực thi PL. Dư¬ới đây là một số ph¬ương hướng cơ bản nhất đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng NNPQ, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Thứ nhất, hoàn thiện các quy định PL về các hình thức dân chủ, các thiết chế dân chủ và cơ chế đảm bảo thực hiện dân chủ
Dân chủ là điều kiện thiết yếu để xây dựng NNPQ và xã hội công bằng, văn minh. Sự mở rộng dân chủ, động lực của công cuộc đổi mới đã và đang đặt ra các yêu cầu mới cho PL. PL phải quy định rõ ràng, minh bạch vấn đề quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức trong dân chủ hoá các lĩnh vực hoạt động của cá nhân và xã hội. Hoàn thiện các quy định về dân chủ được thể hiện trong những vấn đề cơ bản sau đây.
- Trong hoạt động xây dựng PL,
Cần quan tâm cả PL về nội dung và PL về thủ tục, cơ chế thực hiện dân chủ. Thực hiện cải cách mạnh mẽ các thiết chế dân chủ quan trọng nh¬ư Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp các cơ quan tư pháp v.v. . . Đổi mới cho phù hợp các hình thức thực hiện dân chủ: các hình thức trực tiếp và gián tiếp (đại diện) . Hoàn thiện các quy định PL về hình thức, cơ chế lấy ý kiến nhân dân vào việc xây dựng các văn bản PL, thực thi PL.
- Hoạt động áp dụng PL
Có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thực hiện dân chủ . Cải cách hành chính mà khâu đột phá là cải cách thủ tục hành chính theo h¬ướng đơn giản, thuận tiện và cải cách tư¬ pháp là những điều kiện đặc biệt quan trọng để đảm bảo quyền, tự do dân chủ một cách thiết thực, hữu hiệu nhất. PL bảo đảm cho dân chủ vận động trong khuôn khổ, trật tự, hành lang hợp lý. Tiếp tục đổi mới các quy định về quy chế dân chủ ở cơ sở theo hư¬ớng xác định rõ trình tự, thủ tục, cơ chế phối hợp trong việc thực hiện.
Thứ hai, hoàn thiện các quy định PL và cơ chế thực hiện các quyền con người.
Một trong những nguyên tắc, yêu cầu cơ bản nhất của NNPQ là bảo đảm, bảo vệ các quyền con người bằng PL và các biện pháp xã hội.
Bảo vệ quyền con ngư¬ời là đường lối nhất quán xuyên suất toàn bộ hệ thống chính sách, PL của NN ta. Điều 50 HP 1992 quy định : "ở nước CHXHCNVN, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế văn hoá và xã hội được tôn trọng thể hiện ờ các quyền công dân và được quy định trong HP và PL". Trong sự nghiệp đổi mới đất n¬ước, VN đã đạt nhiều thành tựu về bảo đảm, bảo vệ các quyền con người bằng hệ thống PL và cơ chế pháp lý - xã hội thực hiện. PL ghi nhận và có cơ chế bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Các quy định PL về quyền khiếu nại, tố cáo; quyền trong lĩnh vực giáo dục, học tập, hưởng thụ các giá trị văn hoá tinh thần, quyền tự do cá nhân: bất khả xâm phạm về thư tín, điện thoại , chỗ ở, bí mật đời tư. . . cũng được quan tâm sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. NN ta cần quan tâm hơn để hoàn thiện các văn bản PL về hình thức, thủ tục và cơ chế thực hiện các quyền con người.
Thứ ba, mở rộng phạm vi điều chỉnh của PL đối với các quan hệ xã hội
Đáp ứng nhu cầu của thực tiễn cuộc sống, phạm vi điều chỉnh của PL ngày càng được mở rộng . Nhiều lĩnh vực điều chỉnh mới của PL xuất hiện như¬ bảo vệ môi tr¬ường, an sinh xã hội; công nghệ thông tin; PL thương mại, thư¬ơng mại điện tử; thị tr¬ường chứng khoán v. v…
Trong thời kỳ đổi mới , NN ta đã xây dựng đư¬ợc một khung pháp lý mới trong mọi lĩnh vực quan hệ xã hội.Nguyên tắc quản lý xã hội bằng PL và tăng cường pháp chế đã được thể hiện và thực hiện. Trong thời gian tới, công tác xây dựng PL cần tập trung vào những lĩnh vực quan hệ xã hội quan trọng như¬: xây dựng khung pháp lý cần thiết cho sự hình thành đồng bộ các thiết chế thị trư¬ờng, đơn giản hoá thủ tục hành chính; xoá bỏ cơ chế "xin - cho"; hoàn thiện quy định PL và cơ chế thực hiện các quyền con ng¬ười.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực, PL n¬ước ta cần phái đổi mới, hoàn thiện cho phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực chung của PL quốc tế trên cơ sở phát huy nội lực, kế thừa truyền thống và tiếp thu văn hoá pháp lý thế giới .
Thứ tư, nhân đạo hoá vì con ng¬ười và bảo vệ con người
Xu hướng nhân đạo hoá là xu thế chung của nhân loại tiến bộ, của xã hội hiện đại. PL phải thể hiện đ¬ược nguyên tắc này trên tất cả các lĩnh vực của đời sống PL. Một trong những đặc điểm, yêu cầu cơ bản của NNPQ là PL phải vì con ngư¬ời, giá trị cao quý nhất. Xu h¬ướng nhân đạo thể hiện sự tôn trọng giá trị , danh dự, lợi ích chính đáng của con ngư¬ời. Hoàn thiện các bảo đảm, bảo vệ lợi ích của ng¬ời sản xuất, ng¬ười tiêu dùng, các đối tượng dân cư, đặc biệt là ' những đối tượng thiệt thòi , mở rộng các quyền tự do dân chủ, nâng cao trách nhiệm của cá nhân và NN.
Luật hình sự ở nư¬ớc ta ngày càng thể hiện đậm nét nguyên tắc và xu hư¬ớng nhân đạo trên cơ sở bảo đảm lợi ích chính đáng của cá nhân, lợi ích cộng đồng, xã hội. Trong bộ luật hình sự năm 1999 đã thể hiện xu h¬ướng giảm các biện pháp xử lý hình sự vừa đảm bảo sự nghiêm minh vừa có tính giáo dục mở đường cho người phạm tội hoàn lương. PL có vai trò to lớn trong việc phát huy truyền thống khoan dung, nhân ái của dân tộc ta.
Thứ năm, sự phát triển của PL gắn liền với xu h¬ướng pháp điển hoá PL
Một trong những vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc của NNPQ là đảm bảo tính tối cao của HP và các đạo luật.
Trong hệ thống PL, các đạo luật phải chiếm ¬ưu thế, điều đó phản ánh tính tối cao của quyền lực nhân dân bởi các đạo luật được cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân ban hành, quy định những vấn đề quan trọng, cơ bản của xã hội. NNPQ đề cao tính hợp hiến, hợp pháp trong mọi hành vi cá nhân, hoạt động nhà n¬ớc và xã hội.
Trong thời kỳ đổi mới đất n¬ước, NN ta đã xây dựng, ban hành được nhiều văn bản luật, từ HP, các bộ luật đến các đạo luật. Các văn bản luật cũng được quan tâm sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, nâng cao hiệu quả điều chỉnh quan hệ xã hội. Tuy vậy, so với yêu cầu quản lý xã hội trong điều kiện mới, hệ thống PL nước ta còn thiếu nhiều văn bản luật. Trên thực tế, số lượng văn bản dưới luật còn quá nhiều đặc biệt là các văn bản hướng dẫn thi hành các VBQPPL, lại chồng chéo, mâu thuẫn nhau. Đẩy mạnh công tác pháp điển hoá là nhiệm vụ cấp bách hiện nay nhằm xây dựng các văn bản luật mang tính ổn định cao, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho mọi hoạt động xã hội, hạn chế những mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống các văn bản PL.
Câu 3
VBQPPL là gì? Phân biệt với VBADPL.
Trả lời:
1). VBQPPL
a. Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của VBQPPL
VBQPPL là văn bản do CQNN ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hỡnh thức, trỡnh tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được NN bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xó hội ( khoản 1 Điều 1 Luật ban hành VBQPPL năm 2008)
VBQPPL có một số đặc điểm:
- Đó là văn bản do các chủ thể có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, thủ tục, trình tự luật định;
- VBQPPL chứa đựng những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung;
- VBQPPL được áp nhiều lần trong đời sống đối với những trường hợp khi có sự kiện pháp lý xẩy ra;
- Sự thực hiện văn bản không làm chấm dứt hiệu lực của nó;
- Tên gọi, nội dung và trình tự ban hành các loại VBQPPL được quy định cụ thể trong PL.
- Việc thực hiện văn bản được NN bảo đảm thực hiện.
Không phải tất cả những văn bản do NN ban hành là VBQPPL. Những tuyên bố, lời hiệu triệu nhằm giải thích những chính sách đối nội, đối ngoại của NN hoặc động viên nhân dân thực hiện chính sách đó tuy mang ý nghĩa pháp lý song không phải là những VBQPPL.
VBQPPL có vai trò rất quan trọng trong QLNN. Xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh đồng bộ các hình thức văn bản quy phạm sẽ tạo ra cơ sở pháp lý cho sự đảm bảo và tăng cường pháp chế, nâng cao hiệu lực QLNN bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
b) Thẩm quyền ban hành VBQPPL
HP năm 1992 và Luật ban hành VBQPPL năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2008) đã xác định hệ thống các VBQPPL của NN ta, gồm:
Hệ thống VBQPPL
1. HP, luật, nghị quyết của Quốc hội.
2. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
4. Nghị định của CP.
5. Quyết định của Thủ tướng CP.
6. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
7. Thông tư của Viện trưởng VKSND tối cao.
8. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
9. Quyết định của Tổng Kiểm toán NN.
10. Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa CP với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xó hội.
11. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng VKSND tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
12.VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.
Phân loại VBQPPL theo hiệu lực pháp lý
Các VBQPPL căn cứ vào hiệu lực pháp lý, đ¬¬ược phân thành: Văn bản luật và văn bản d¬¬ưới luật.
- Văn bản luật là những VBQPPL do Quốc hội, cơ quan quyền lực NN cao nhất ban hành, có hiệu lực PL cao hơn các văn bản d¬ưới luật, các văn bản PL khác không được trái với văn bản luật.
Văn bản luật bao gồm HP, Luật (Bộ luật, Luật). HP là luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản PL. HP qui định những vấn đề cơ bản nhất của quốc gia như¬: hình thức, bản chất NN, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chế độ văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức BMNN... Luật quy định các vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất n¬¬ước, những nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của BMNN, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân (Điều 20 Luật Ban hành VBQPPL).
- Văn bản d¬ưới luật có hiệu lực pháp lý thấp hơn các văn bản luật, do các CQNN có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục nhất định. Các văn bản d¬¬ưới luật không đ¬ược trái với các văn bản luật, đảm bảo tính tối cao của luật đó là một trong những nguyên tắc của NNPQ. Các VBQPPL của các CQNN cấp d¬¬ưới ban hành phải phù hợp với các VBQPPL của các CQNN cấp trên. Điều 2 của Luật Ban hành VBQPPL năm 1996 ( đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2008) đã quy định về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống VBQPPL nư¬¬ớc ta trong đó thể hiện tính bắt buộc về trật tự thứ bậc hiệu lực pháp lý của các VBQPPL, xử lý khi có sự vi phạm các quy định này.
2). Phân biệt VBQPPL và VBADPL
a. Điểm giống nhau giữa VBQPPL và VBADPL:
Thứ nhất, VBQPPL và VBADPL đều phải do các chủ thể là CQNN hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ban hành theo một trình tự, thủ tục, hình thức, thẩm quyền mà luật định.
- VBQPPL là văn bản do CQNN ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hỡnh thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật ban hành VBQPPL, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được NN bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xó hội .
- VBADPL là văn bản pháp lý cá biệt mang tính quyền lực do các CQNN, người có thẩm quyền trong CQNN ban hành trên cơ sở những quy phạm PL, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định các biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể VPPL.
Thứ hai, VBQPPL và VBADPL đều được NN bảo đảm thực hiện.
b. Điểm khác nhau giữa VBQPPL và VBADPL:
Thứ nhất, khác về phạm vi điều chỉnh, mức độ tác động
- VBQPPL chứa đựng những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung.
- VBADPL có tính chất cá biệt - cụ thể, điều chỉnh cá biệt, cá biệt hóa quy phạm PL, nó được ban hành trên cơ sở quy phạm cụ thể để đưa PL vào cuộc sống.
Thứ hai, khác về hiệu lực của văn bản
- VBQPPL được áp nhiều lần trong đời sống đối với những trường hợp khi có sự kiện pháp lý xẩy ra; sự thực hiện văn bản không làm chấm dứt hiệu lực của nó;
- VBADPL chỉ có hiệu lực một lần đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể trong những tr¬ường hợp xác định, được thực hiện ngay.
Câu 4
Trình bày các hình thức thực hiện PL? Tại sao nói áp dụng PL là hình thức thực hiện PL đặc biệt? Phân biệt VBADPL với VBQPPL.
Trả lời:
1) Các hình thức thực hiện PL
a. Khái niệm THPL
Các VBQPPL đã đ¬¬ược ban hành cần đ¬¬ược thực hiện trong cuộc sống thì chúng mới có ý nghĩa. Mục đích của việc ban hành văn bản PL chỉ có thể đạt đ¬ược khi các quy phạm PL do NN đặt ra đ¬ược các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác, đầy đủ. Do vậy, vấn đề không phải chỉ là xây dựng và ban hành thật nhiều các văn bản PL, điều quan trọng là phải thực hiện PL, làm cho những yêu cầu quy định của chúng trở thành hiện thực.
Việc thực hiện chính xác, đầy đủ PL XHCN là mối quan tâm không chỉ từ phía NN XHCN mà từ cả mỗi ng¬ười dân trong xã hội. Họ tự giác thực hiện PL và đòi hỏi PL phải được các tổ chức, các cá nhân khác tôn trọng, thực hiện chính xác và đầy đủ Thực hiện PL là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con ng¬¬ười phù hợp với những quy định của PL. Nói khác đi, tất cả những hoạt động nào của con ng¬¬ười, của các tổ chức mà thực hiện phù hợp với quy định của PL thì đều đ¬ược coi là biểu hiện của việc thực hiện các quy phạm PL.
Dư¬ới góc độ pháp lý, thực hiện PL là hành vi hợp pháp. Hành vi đó không trái mà phù hợp với quy định của PL và có lợi cho xã hội, cho NN, cho cá nhân. Hành vi hợp pháp có thể đ¬¬ược thực hiện trên cơ sở nhận thức của chủ thể là cần thiết phải xử sự theo đúng quy định của PL. Cũng có thể chúng đ¬ược thực hiện do chủ thể bị ảnh h¬ưởng của những ng¬¬ười xung quanh chứ bản thân ng¬¬ười thực hiện hành vi đó chư¬¬a hoặc không nhận thức đ¬ược đầy đủ tại sao phải làm nh¬ư vậy. Còn có thể có những hành vi hợp pháp đ¬¬ược thực hiện do kết quả của việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế NN hoặc do sợ bị áp dụng những biện pháp đó.
Thực hiện PL có thể là hành vi của mỗi cá nhân nh¬ưng cũng có thể là hoạt động của các CQNN, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế...
Thực hiện PL là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của PL đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể PL.
b. Các hình thức thực hiện PL
Các quy phạm PL rất đa dạng, phong phú cho nên hình thức thực hiện chúng cũng rất đa dạng, phong phú. Căn cứ vào tính chất của các hoạt động thực hiện PL, khoa học pháp lý đã xác định những hình thức thực hiện PL sau:
- Tuân theo (tuân thủ) PL (xử sự thụ động) là một hình thức thực hiện PL, trong đó các chủ thể PL kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà PL ngăn cấm. Những quy phạm PL cấm trong luật hình sự, hành chính . . . đ¬¬ược thực hiện d¬ưới hình thức này.
- Thi hành (chấp hành) PL là một hình thức thực hiện PL, trong đó các chủ thể PL thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Những quy phạm PL bắt buộc (những quy phạm quy định nghĩa vụ phải thực hiện những hành vi tích cực nhất định) đ¬ược thực hiện ở hình thức này.
- Sử dụng PL là một hình thức thực hiện PL, trong đó các chủ thể PL thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà PL cho phép). Những quy phạm PL quy định các quyền và tự do dân chủ của công dân đ¬ược thực hiện ở hình thức này. Hình thức sử dụng PL khác với hình thức chấp hành PL ở chỗ chủ thể PL có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền đ¬ược PL cho phép theo ý chí của mình, chứ không bị bắt buộc phải thực hiện
- Áp dụng PL là một hình thức thực hiện PL trong đó NN thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể PL thực hiện những quy định của PL, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của PL ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dút những quan hệ PL cụ thể. Trong tr¬¬ường hợp này, các chủ thể PL thực hiện các quy định của PL có sự can thiệp của NN.
Nếu như¬ tuân thủ PL, thi hành PL và sử dụng PL là những hình thức mà mọi chủ thể PL đều có thể thực hiện thì áp dụng PL là hình thức luôn luôn có sự tham gia của NN thông qua các cơ quan hoặc nhà chức trách mới có thẩm quyền áp dụng PL.
3) Áp dụng PL là hình thức thực hiện PL đặc biệt là vì:
a. Lý do phải áp dụng PL
PL tác động vào các quan hệ xã hội, vào cuộc sống đạt hiệu quả cao nhất chỉ khi tất cả những quy định của nó đều đ¬¬ược thực hiện chính xác, triệt để. Nh¬ưng nếu chỉ thông qua các hình thức tuân theo PL, thi hành PL và sử dụng PL thì sẽ có rất nhiều quy phạm PL không đ¬ược thực hiện. Lý do có thể là các chủ thể không muốn thực hiện hoặc không đủ khả năng tự thực hiện nếu thiếu sự tham gia của CQNN có thẩm quyền. Do đó, hoạt động áp dụng PL cần phải đ¬ược tiến hành trong các tr¬ường hợp sau:
- Khi cần áp dụng các biện pháp cư¬¬ỡng chế NN, hoặc áp dụng các chế tài PL đối với những chủ thể có hành vi vi phạm PL.
Ví dụ, một chủ thể PL thực hiện hành vi phạm tội thì không phải ngay sau đó việc áp dụng trách nhiệm hình sự tự động phát sinh và người vi phạm tự giác chấp hành hình phạt t¬¬ương ứng. Trong tr¬¬ường hợp này, cần có hoạt động của các cơ quan t¬¬ư pháp nhằm điều tra, truy tố, xét xử, ra bản án trong đó ấn định trách nhiệm hình sự đối với ng¬ười phạm tội và buộc ng¬ười đó phải chấp hành bản án.
- Khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của NN.
Ví dụ, Điều 57 của HP năm 1992 quy định công dân có quyền tự do kinh doanh, nh¬¬ưng quyền này chỉ phát sinh khi công dân làm thủ tục đăng ký kinh doanh và đ¬ược một CQNN có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan hệ PL mà các bên đó không tự giải quyết được.
Trong tr¬¬ường hợp này, quan hệ PL đã phát sinh, nh¬¬ưng quyền và nghĩa vụ của các bên không đ¬ược thực hiện và có sự tranh chấp:
Ví dụ, tranh chấp giữa bên trong quan hệ thừa kế, trong QH mua bán nhà ở...
Trong một số quan hệ PL mà NN thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ đó, hoặc NN xác nhận sự tồn tại hay không lồn tại một số sự việc, sự kiện thực tế.
Ví dụ, việc chứng thực di chúc, chứng thực thế chấp v.v...
Như¬¬ vậy, như¬¬ mục trên đã đề cập, áp dụng PL là một hình thức thực hiện PL, trong đó NN thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể PL thực hiện những quy định của PL, hoặc tự mình căn cử vào các quy định của PL ra các quyết đinh áp dụng PL vào "trong những tr¬ường hợp cụ thể của đời sống xã hội.
Áp dụng PL là hoạt động thực hiện PL của các CQNN. Nó vừa là một hình thức thực hiện PL, vừa là cách thức NN tổ chức cho các chủ thể thực hiện PL áp dụng PL có các đặc điểm sau:
b. Đặc điểm của áp dụng PL
Áp dụng PL khác với các hình thức thực hiện PL khác như: thi hành PL, tuân thủ PL, sử dụng PL bởi các đặc điểm sau:
Thứ nhất, áp dụng PL là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực NN, cụ thể là:
- Hoạt động áp dụng PL chỉ do những CQNN hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành. Mỗi CQNN hay nhà chức trách trong phạm vi thẩm quyền đ¬ược giao thực hiện một số những hoạt động áp dụng PL nhất định. Trong quá trình áp dụng PL mọi khía cạnh, mọi tình tiết đều phải được xem xét cẩn trọng và dựa trên cơ sở các quy định, yêu cầu của quy phạm PL đã được xác định để ra quyết định cụ thể.
Như¬¬ vậy, PL là cơ sở để các CQNN có quyền áp dụng PL thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình;
- Hoạt động áp dụng PL đ¬ược tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn ph¬ương của các CQNN có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng PL;
Áp dụng PL có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và các chủ thể có liên quan.
VBADPL chỉ do các cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền áp dụng PL ban hành. VBADPL mang tính bắt buộc phải thực hiện với những tổ chức và cá nhân có liên quan. Trong những tr¬¬ường hợp cần thiết, quyết định áp dụng PL đ¬ược bảo đảm thực hiện bằng sự cư¬ỡng chế NN.
Thứ hai, áp dụng PL là HĐ phải tuân theo thủ tục chặt chẽ do PL quy định.
Do tính chất quan trọng và phức tạp của hoạt động áp dụng PL, chủ thể bị áp dụng PL có thể đ¬¬ược hư¬ởng những lợi ích rất lớn nh¬ưng cũng có thể phải chịu những hậu quả rất nghiêm trọng nên PL xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình áp dụng PL.
Ví dụ, việc giải quyết một vụ án hình sự phải tiến hành theo những quy định cụ thể của Bộ luật Tố tụng Hình sự; hoặc việc xử phạm hành chính đ¬¬ược điều chỉnh bởi những quy phạm, thủ tục xử phạt hành chính. Các CQNN có thẩm quyền và các bên có liên quan trong quá trình áp dụng PL phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục đó, để tránh những sự tùy tiện có thể dẫn đến việc áp dụng PL không đúng, không chính xác.
Thứ ba, áp dụng PL là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đôí các quan hệ xã hội nhất định.
Đối t¬¬ượng của hoạt động áp dụng PL là những quan hệ xã hội cần đến sự điều chỉnh cá biệt trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong quy phạm PL. Bằng hoạt động áp dụng PL những quy phạm PL nhất định đ¬ược cá biệt hóa vào trong những tr¬ường hợp cụ thể của đời sống.
Thứ tư¬, áp dụng PL là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo.
Khi áp dụng PL, các CQNN có thẩm quyền phải nghiên cứu kỹ l¬ưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọn quy phạm, ra VBADPL và tổ chức thi hành. Trong tr¬ường hợp PL ch¬¬ưa quy định hoặc quy định ch¬¬ưa rõ thì phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng PL t¬ương tự. Để đạt tới điều đó, đòi hỏi các nhà chức trách phải có ý thức PL cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức trong sáng và có trình độ chuyên môn cao.
Từ sự phân tích trên cho thấy, áp dụng PL là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực NN, đ¬ược thực hiện thông qua những CQNN có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi đ¬ược NN trao quyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm PL vào các tr¬ường hợp cụ thể đôí với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
4) Phân biệt VBQPPL và VBADPL
a. Điểm giống nhau giữa VBQPPL và VBADPL:
Thứ nhất, VBQPPL và VBADPL đều phải do các chủ thể là CQNN hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ban hành theo một trình tự, thủ tục, hình thức, thẩm quyền mà luật định.
- VBQPPL là văn bản do CQNN ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hỡnh thức, trỡnh tự, thủ tục được quy định trong Luật ban hành VBQPPL, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được NN bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xó hội .
- VBADPL là văn bản pháp lý cá biệt mang tính quyền lực do các CQNN, người có thẩm quyền trong CQNN ban hành trên cơ sở những QPPL, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định các biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm PL.
Thứ hai, VBQPPL và VBADPL đều được NN bảo đảm thực hiện.
b. Điểm khác nhau giữa VBQPPL và VBADPL:
Thứ nhất, khác về phạm vi điều chỉnh, mức độ tác động
- VBQPPL chứa đựng những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung.
- VBADPL có tính chất cá biệt - cụ thể, điều chỉnh cá biệt, cá biệt hóa quy phạm PL, nó được ban hành trên cơ sở quy phạm cụ thể để đưa PL vào cuộc sống.
Thứ hai, khác về hiệu lực của văn bản
- VBQPPL được áp nhiều lần trong đời sống đối với những trường hợp khi có sự kiện pháp lý xẩy ra; sự thực hiện văn bản không làm chấm dứt hiệu lực của nó;
- VBADPL chỉ có hiệu lực một lần đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể trong những tr¬ường hợp xác định, được thực hiện ngay.
Câu 5
Điều 12 HP 1992 quy định: "NN quản lý xã hội bằng PL, tăng cường pháp chế XHCN…". Anh, chị hãy lý giải:
- Pháp chế là gì? tại sao phải tăng cường pháp chế?
- Để tăng cường pháp chế đơn vị, ngành. Lĩnh vực nơi anh, chị công tác cần tập trung vào những biện pháp nào?
Trả lời:
Trong sách báo pháp lý ở n¬¬ước ta, thuật ngữ pháp chế đang đ¬ược sử dụng với những nội dung khác nhau:
- Có tác giả quan niệm: "Pháp chế chính là sự đòi hỏi CQNN, nhân viên NN, tổ chức xã hội và mọi công dân phải thực hiện đúng, thực hiện nghiêm chỉnh PL trong hoạt động của mình"1.
- Có học giả cho rằng, "Pháp chế là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả các CQNN, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên NN, nhân viên các lổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách triệt để và chính xác.
- Một số học giả khác lại quan niệm pháp chế chính là PL, nh¬ưng không phải PL trên giấy mà là PL đang sống, nghĩa là ở trạng thái tác động vào đời sống xã hội.
Chính trên cơ sở này mà PL mới có được một giá trị to lớn với tư cách là hình thức tồn tại của các cơ cấu và tổ chức xã hội, các thiết chế NN. Đó chính là ý nghĩa của NNPQ đ¬ược hiểu như¬¬ một trạng thái đ¬¬ược bảo đảm cao về mặt pháp chế của xã hội. Ở đó, tổ chức chính trị, hoạt động kinh tế, đời sống tình thần đ¬ược đảm bảo bằng PL và trên cơ sở tôn trọng PL. Ở đó, xã hội tránh đ¬ược những yếu tố ngẫu nhiên và hạn chế đ¬ược đến mức tối đa tính tự phát. Nhận thức lý luận nh¬ư vậy về pháp chế có giá trị thực tiễn to lớn đối với nhu cầu hiện nay về củng cố chế độ xã hội và phát triển kinh tế trên cơ sở ổn định chính trị. Một phương thức không thể thiếu để bảo đảm sự ổn định đó là củng cố pháp chế, sử dụng PL để trật tự hoá, ổn đính hoá các quan hệ xã hội theo định hướng phát triển tiến bộ.
Nh¬¬ư vậy, cách hiểu pháp chế nh¬¬ư là mức độ 'đ¬ược thể chế hoá của xã hội cho phép sử dụng nó nh¬ư một phư¬¬ơng thức để nâng cao tính pháp lý của NN, của các thiết chế chính trị và thiết chế xã hội.
Đồng thời, quan niệm này về pháp chế còn là cách để chúng ta không ngừng nâng cao tính tích cực pháp lý của công dân - cơ sở đầu tiên của lối sống có kỷ luật, có kỷ c¬¬ương, tuân theo PL.
Ở góc độ khác, quan điểm pháp chế nêu trên còn là cơ sở ph¬ương pháp luận của công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư¬¬ pháp ở nư¬¬ớc ta.
Tạo ra những điều kiện pháp lý cần thiết để nhân dân sử dụng đầy đủ các quyền và thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ công dân, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của NN là một trong những yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính và cải cách t¬ư pháp hiện nay.
Quan niệm đúng đắn, đầy đủ về pháp chế là cơ sở của quan điểm chỉ đạo nhiệm vụ tăng cư¬¬ờng xây dựng và hoàn thiện hệ thống PL trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước.
Trong lĩnh vực chính trị - xã hội, PL là sự thể hiện hoá đư¬ờng lối của Đảng và NN ta về các vấn đề như¬¬ hệ thống chính trị và các hoạt động chính trị, về các quyền tự do dân chủ của nhân dân, về NN và cơ chế quyền lực NN, về các tổ chức chính trị - xã hội. Xây dựng cơ sở pháp lý cho các quan hệ chính trị - quyền lực là đòi hỏi của nhu cầu ổn định chính trị, phát huy dân chủ, xây dựng NNPQ.
Nhu cầu điều chỉnh PL ở đây thể hiện trong quan hệ qua lại giữa các chủ thể chính trị và quản lý (chẳng hạn, điều chỉnh cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, NN quản lý; cơ chế tham gia, t¬ư vấn và phản biện của nhân dân, của các tổ chức chính trị - xã hội . . . ) vào quá trình hoạch định chính sách, đ¬¬ường lối, PL, vào việc QLNN. Nhu cầu này cũng nảy sinh trong quan hệ nội tại của tổ chức và hoạt động của từng chủ thể chính trị và quản lý (thí dụ, trình tự thành lập, cơ cấu tổ chức, chức năng, thẩm quyền, v.v... của các chủ thể).
Từ những điều trình bày trên đây, theo chúng tôi định nghĩa về pháp chế phản ánh t¬¬ương đối đầy đủ nội dung của khái niệm này là định nghĩa sau đây:
Pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống PL cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại một trật tự PL; là sự tuân thủ và thực hiện đầy đủ PL trong tổ chức và hoạt động của NN , của cơ quan , đơn vị tổ chức và mọi công dân. 5
b. Nội dung cơ bản của pháp chế
Trong định nghĩa này chúng ta thấy có hai nội dung rất đáng chú ý:
Thứ nhất, sự hiện diện của một HTPL cần và đủ cho sự tồn tại của một trật tự PL và kỷ luật;
Thứ hai, NN, CQNN, công chức NN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và tất cả công dân trong mọi hoạt động của mình đều phải tuân thủ và thực hiện đầy đủ PL.
Quan niệm trên đây về pháp chế khắc phục đ¬ược những thiếu sót của các quan niệm phiến diện, một chiều về pháp chế. Trong quan niệm này, PL cũng được đề cập như¬ng ở dạng hệ thống PL và hơn thế nữa hệ thống PL này phải đạt đ¬ược hai yêu cầu là cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội. Hệ thống PL ấy phải đủ khả năng làm cơ sở pháp lý cho sự tồn tại của một trật tự PL và kỷ luật trong đời sống NN, đời sống xã hội.
Theo nội dung thứ hai, nhà nghiên cứu không viết pháp chế là một chế độ, hay là đòi hỏi hoặc là nguyên tắc mà chỉ nói đến sự tuân thủ PL và thực hiện PL của mọi chủ thể PL. Theo chúng tôi, khi định nghĩa thì đưa ra cách diễn đạt khái quát nh¬¬ư vậy về pháp chế. Đến khi phân tích nội dung của pháp chế, ng¬¬ười ta không những có thể mà cần đề cập các khía cạnh này.
2). Phải tăng cường pháp chế là vì:
Thứ nhất, đảm bảo tính thống nhất của pháp chế và đảm bảo tính tối th¬¬ượng của HP và luật
Đảm bảo tính tối th¬ượng của HP và luật
Trong hệ thống PL, các văn bản đ¬ược đặt ở những vị trí khác nhau bởi hai tiêu chí: Mức độ điều chỉnh và mức độ của hiệu lực pháp lý. Mức độ điều chỉnh khái quát cao th¬¬ường đặc tr¬ưng cho những văn bản có hiệu lực chung; mức độ điều chỉnh t¬¬ương ứng với vị trí quyền lực của cơ quan ban hành ra văn bản. Các cơ quan quyền lực và QLNN đ¬ược tổ chức theo thứ tự quan hệ về thẩm quyền, trên và d¬ưới, trung ương và địa phương. Các văn bản do các CQNN ban hành phải thể hiện đúng thẩm quyền của từng cơ quan và có như¬¬ vậy mới t¬ương xứng với mối quan hệ giữa các cơ quan đó.
Sự tuân thủ thứ tự cấp bậc theo thẩm quyền đòi hỏi HP và luật phải ở vị trí tối cao bởi vì đó là những văn bản do Quốc hội, cơ quan quyền lực NN cao nhất của nư¬¬ớc Cộng hoàXHCNVN (Điều 83 HP) ban hành. Các văn bản của các CQNN khác như¬¬ pháp lệnh của Uỷ ban Thư¬¬ờng vụ Quốc hội (Mục 4 Điều 91 HP), Lệnh của Chủ lịch nư¬ớc (Điều 103 HP), Nghị quyết, Nghị định của CP và Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng CP (Điều 115 HP), các Quyết định, Chỉ thị, Thông tư¬¬ của Bộ tr¬ưởng đều phải đ¬¬ược ban hành hoặc trên cơ sở đ¬ược Quốc hội giao (đối với Uỷ ban Thư¬ờng vụ Quốc hội), hoặc trên cơ sở và để thi hành HP và luật. Các cơ quan quyền lực NN ở địa phư¬ơng chịu trách nhiệm chấp hành HP, luật các văn bản của các CQNN cấp trên (các Điều 1 19, 120, 123 HP).
Tính chất tối th¬¬ượng của HP và luật là điều kiện để khắc phục tình trạng luật "chờ ' Thông t¬¬ư, giải thích của các cấp thực hiện. Thực tiễn cho thấy có những trường hợp phạm nội dung, tinh thần và lời văn của các quy định trong luật như¬¬ sau:
- Văn bản chỉ có giá trị hư¬¬ớng dẫn thi hành luật, như¬ng cách h¬ướng dẫn đi quá xa đến mức t¬ước đi nội dung chính yếu của luật; tình huống làm vô hiệu hoá luật;
- Các biện pháp áp dụng PL đã tạo ra những tình huống làm vô hiệu hoá luật.
Tình trạng làm cho luật phải "chờ ' thông t¬¬ư, cũng như¬¬ những tình huống vừa nêu ở đây là không phù hợp với yêu cầu của pháp chế.
Đảm bảo tính pháp chế thống nhất
Cũng như¬ trong khâu ban hành PL, ở đây, nguyên tắc pháp chế về việc tuân thủ PL đòi hỏi PL phải trở thành chế độ pháp chế thống nhất và phải đ¬ược tuân thủ trong cuộc sống.
Các quy định PL phải đ¬ược hiểu, đ¬ược thực hiện thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia, đối với tất cả quan hệ xã hội và các chủ thể có liên quan. Tôn trọng trật tự thứ bậc trong các loại văn bản PL. Tránh sự tuỳ tiện trong việc giải thích, áp dụng các quy định PL. Pháp chế là sự đòi hỏi tất cả các cơ quan của Đảng, NN, các tổ chức, đoàn thể xã hội và cá nhân công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành PL, tuân thủ PL. Đòi hỏi này của pháp chế là cơ sở để khẳng định rằng, xây dựng PL là rất quan trọng, như¬ng không thể quản lý xã hội, QLNN bằng cách chỉ dừng lại ở việc xây dựng văn bản PL mà phải kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện PL, tạo điều kiện cho PL đi vào cuộc sống và xem xét hiệu quả thực tế của nó. Trong quá trình thực hiện các quy định PL, các CQNN ở địa ph¬¬ương cần thực hiện nghiêm chỉnh các quy định PL đồng thời cân nhắc đến những điều kiện đặc thù của địa ph¬¬ương, cơ sở mình nh¬ưng không biến điều đó thành lý do để vi phạm các quy định chung của PL. Chỉ có CQNN có thẩm quyền mới có quyền quyết định việc thay đổi các VBQPPL.
Thứ hai, bảo đảm và bảo vệ có hiệu quả các quyền và tự do của công dân là yêu cầu quan trọng của pháp chế
Có thể nói rằng, nguyên tắc pháp chế là chiếc cầu nối quan trọng giữa NN với công dân. NNPQ đòi hỏi sự t¬ương tác phù hợp giữa quyền lực và tự do nhân chính của con ng¬ười. HP và những đạo luật, bộ luật quan trọng của NN ta nh¬¬ư Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Lao động, Luật Doanh nghiệp và rất nhiều văn bản PL về kinh tế, dân sự đã đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho mối quan hệ đó. Có những nguyên tắc hiến định quan trọng làm nền lảng cho mối t¬ương quan đó, chẳng hạn, nguyên tắc đ¬¬ược ghi trong Điều 8 của HP: "Các CQNN, cán bộ, công viên chức NN phải tôn trọng nhân dân", "Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng".
HP quy định rõ: "Quyền và nghĩa vụ của công dân do HP và PL quy định" (Điều 51 ). Đây là một bảo đảm rất quan trọng để một mặt, ngăn ngừa sự tuỳ tiện đặt ra những quyền khác, ngoài quy định của HP và PL, tức là đặc quyền, đặc lợi, và mặt khác, không cho phép bất cứ ai đ¬ược quy định thêm những nghĩa vụ ngoài những gì HP và PL đã quy định (chẳng nh¬ư đặt thêm các loại thuế, yêu cầu đóng góp các nguồn, bắt thực hiện các trách nhiệm không do PL quy định hoặc không xuất phát từ PL).
Bộ luật Hình sự quy định: "Chỉ ng¬¬uời nào phạm một tội đã đ¬¬ược luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự ' (Điều 2). Điều 72 của HP và Điều 9 của Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: "Không ai có thể bị coi là có lội và chịu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực PL.
Nội dung của hai điều trích dẫn trên đây là biểu hiện của một nguyên tắc có mức khái quát cao hơn mà khoa học pháp lý gọi là nguyên tắc suy đoán về tính hợp pháp của hành vi. Nguyên tắc này đ¬ược hiểu nh¬¬ư sau: Hành vi của một ng¬¬ười phải luôn luôn đ¬¬ợc coi là hợp pháp khi ch¬ưa chứng minh được bằng các thủ tục luật định điều ng¬ược lại.
Đây chính là nguyên tắc căn bản để bảo vệ quyền con ng¬¬ười và phẩm giá của con ng¬¬ười. Đồng thời nó cũng là bảo đảm pháp lý cực kỳ quan trọng của một xã hội văn minh, chống sự tuỳ tiện của những người có chức có quyền trong mối quan hệ với công dân.
Thứ ba, đảm bảo sự tuân thủ PL trong tổ chức và hoạt động của NN, của các CQNN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế và mọi cá nhân
Nội dung thứ ba này của pháp chế đ¬ược thể hiện cô đọng tại Điều 12 của HP: "Các CQNN, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành HP và PL...".
`NN là thiết chế làm ra luật, ban hành PL, như¬ng cần tự nguyện đặt mình trong sự ràng buộc về quyền và trách nhiệm tr¬ước PL, trong khuôn khổ các quy định của PL. Đó là yêu cầu không thể thiếu được của một NNPQ. Phục tùng PL là phục tùng ý chí và lợi ích của nhân dân, đ¬ường lối chính sách của Đảng đã đ¬ược ¬¬đưa lên thành luật.
Thứ tư, đảm bảo xử lý kịp thời và công minh những hành vi vi phạm PL, xâm phạm lợi ích của công dân, của tập thể, của NN
Ngăn ngừa, cư¬ơng quyết đẩy lùi và xử lý nghiêm minh các vi phạm và tội phạm là nội dung và yêu cầu của pháp chế.
HP quy định: "Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của NN, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo PL" (Điều 12).
Nh¬¬ư đã nói ở trên, để đạt đ¬ược những mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị, phát huy dân chủ và thực hiện công bằng xã hội thì việc bảo vệ quyền con ngư¬ời, các quyền tự do, dân chủ của công dân, xác định đúng đắn trách nhiệm của NN đối với công dân là những điều có ý nghĩa hết sức quan trọng. Tuy nhiên, tự do và trách nhiệm đều có vị trí xác định của nó. Nguyên tắc " có thể làm tất cả những gì luật không cấm" có ý nghĩa đối với việc phát huy dân chủ và sáng tạo, bảo đảm tự do cho con ng¬ười. Nh¬ưng nguyên tắc đó cũng hàm chứa trong đó ranh giới pháp lý giữa tự do và trách nhiệm. Đối với công dân, đối với các hoạt động không mang tính quyền lực NN, thì ranh giới của hành vi hợp pháp là tự do, là các quyền hợp pháp và các lợi ích chính đáng của ngư¬¬ời khác, của tập thể hoặc của quốc gia. Chính vì vậy, HP đã có nhiều quy định, trong đó có yêu cầu là không ai đ¬¬ược lợi dụng các quyền tự do dân chủ để làm trái PL và chính sách của NN, vi phạm tự do, tài sản, danh dự và nhân phẩm của con ngư¬¬ời. Đối với các cơ quan và những nhà chức trách nắm trong tay quyền lực NN thì chức năng, thẩm quyền do PL quy định cho các cơ quan và những nhà chức trách đó chính là ranh giới của hành vi.
Thứ năm, đòi hỏi hệ thống PL phải đáp ứng được các yêu cầu cần và đủ cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
Sử dụng PL là cần thiết, như¬¬ng sử dụng nó nh¬¬ư thế nào cũng là điều quan trọng. Phải sử dụng PL như¬¬ thế nào để nó thực sự là đại lượng của tự do, công bằng, bình đẳng và dân chủ. Vì vậy, pháp chế có nghĩa là sự đòi hỏi phải xác định khả năng và vai trò của PL trong hệ thống các quy phạm xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Từ đó, mức độ điều chỉnh và phư¬¬ơng thức điều chỉnh của PL sẽ đ¬¬ược xác định đúng đắn, tạo ra một trật tự PL phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội, chính trị, văn hoá v.v... của xã hội trong từng giai đoạn. Chẳng hạn, trong lĩnh vực dân chủ về chính trị, PL chỉ có thể quy định những hình thức tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội của công dân chứ không nên quy định những nội dung cụ thể của từng loại hoạt động đó. Bởi vì ở đây, tính tích cực về chính trị - xã hội của nhân dân là rất phong phú về nội dung, rất đa dạng về hình thức, không thể dùng PL để điều chỉnh hết sự đa dạng và phong phú đó.
Pháp chế đòi hỏi việc điều chỉnh PL phải dúng cách. Điều này đòi hỏi phải xác định đúng tính chất, đặc điểm của các quan hệ cần điều chỉnh bằng PL.
Thí dụ, do đặc điểm cơ bản của các quan hệ trong lĩnh vực kinh doanh là sự bình đẳng của các chủ thể kinh doanh độc lập, cho nên ph¬¬ương pháp điều chỉnh ở đây sẽ phải là ph¬ương pháp bình đẳng thoả thuận, ít tr¬ường hợp dùng phư¬¬ơng pháp hành chính- mệnh lệnh và quy định ngăn cản lại càng hiếm. Đó là ph¬¬ương pháp của luật dân sự. Trong khi đó, quan hệ quản lý, điều hành là quan hệ trên d¬ưới, cho nên đặc điểm chính của sự điều chỉnh là dùng phư¬¬ơng pháp quy định kết hợp với quy định ngăn cấm, íl khi có phương pháp bình đẳng, thoả thuận. Đó là ph¬¬ương pháp điều chỉnh của luật hành chính, luật tài chính, v.v...
Khi ph¬ương pháp điều chỉnh bị sử dụng nhầm chỗ có thể dẫn đến vi phạm PL hoặc làm cho PL kém hiệu lực, kém hiệu quả trong cuộc sống. Hiểu ở nghĩa này thì vấn đề xác định các ngành luật, nhất là xác định đối t¬ượng điều chỉnh, ranh giới "phân công" giữa các ngành luật kinh tế, luật th¬ương mại, luật dân sự, luật hành chính, có ý nghĩa to lớn đối với việc tăng c¬ường pháp chế. Và do đó không thể coi sự tranh luận xung quanh vấn đề này chỉ là vấn đề thuần tuý học thuật.
3. Các biện pháp để tăng cường pháp chế trong cơ quan, đơn vị
a) Tổ chức tốt việc xây dựng và ban hành các quyết định QLNN theo thẩm quyền của cơ quan, đơn vị
+ Chú trọng tính hợp pháp và hợp lý trong việc ban hành quyết định QLNN theo thẩm quyền ( quyết định QLNN do cơ quan ban hành không được trái với đường lối, chủ trương của Đảng; không được trái với HP, luật, văn bản của CQHCNN cấp trên; trình tự, thủ tục, thẩm quyền, hình thức ban hành phải đúng quy định của PL; văn bản phải có tính khả thi trên thực tế…)
+ Thường xuyên rà soát hệ thống văn bản do mình ban hành để phát hiện những văn bản chồng chéo, mâu thuẫn với văn bản khác, văn bản đã lạc hậu, lỗi thời…để đình chỉ, bãi bỏ và xây dựng, ban hành mới cho phù hợp.
b) Tổ chức tốt việc thực hiện PL trong cơ quan, đơn vị
Tổ chức thực hiện PL có liên quan đến mọi chủ thể PL, là khâu trung tâm, quan trọng nhất của công tác tăng cư¬ờng pháp chế XHCN, vì pháp chế XHCN chỉ hình thành khi mọi ng¬ười hiểu, tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh PL.
- Để mọi ng¬ười thực hiện tốt PL tr¬ước hết phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nhằm hình thành và nâng cao ý thức PL cho cán bộ, công chức trong cơ quan, đơn vị
- Ьưa việc phổ biến, giáo dục PL thành công tác thường xuyên của cơ quan, đơn vị .
c, Tăng cư¬ờng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện PL trong cơ quan, đơn vị
+ Kiểm tra, giám sát việc thực hiện PL trong cơ quan ( kiểm tra của thủ trưởng cơ quan, giám sát của các tổ chức quần chúng, giám sát của cá nhân cán bộ, công chức…).
+ Phải tăng c¬ường vai trò, vị trí của các tổ chức quần chúng, cơ quan thanh tra... nhằm phát huy vai trò của chúng trong củng cố, bảo vệ pháp chế XHCN.
+ Trong công tác kiểm tra, giám sát thực hiện PL phải đặc biệt coi trọng việc bảo đảm quyền khiếu naị, tố cáo của cán bộ, công chức đối với những hành vi vi phạm PL.
d). Kiện toàn tổ chức của cơ quan, đơn vị
+ Kiện toàn tổ chức cơ quan, đơn vị theo hướng gọn nhẹ, có chất lượng cao, với một đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực quản lý hành chính, năng lực tổ chức, điều hành NN, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, và khả năng thực hiện đúng đắn thẩm quyền.
+ Cán bộ, công chức trong cơ quan, đơn vị phải là những người nắm vững PL, để QLNN theo đúng PL;
+ Đấu tranh khắc phục những nhận thức không đúng đắn, không đầy đủ về PL, pháp chế XHCN dẫn đến không tình trạng tôn trọng
+ Cư¬ơng quyết đấu tranh không khoan nh¬ượng chống mọi hành vi tham nhũng, cửa quyền, vi phạm PL nhằm bảo vệ PL, pháp chế XHCN.
e, Tăng cường sự lãnh đạo của tổ chức Đảng trong cơ quan, đơn vi nhằm tăng c¬ường pháp chế XHCN
+ Công tác tăng cư¬ờng pháp chế phải đặt d¬ưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng trong cơ qaun, đơn vị.
+ Tổ chức Đảng trong cơ quan, đơn vị phải thường xuyên lãnh đạo công tác pháp chế, tăng c¬ường cán bộ có phẩm chất và năng lực cho lĩnh vực pháp chế và kiểm tra chặt chẽ hoạt động thực hiện PL của cơ quan, đơn vị, đặc biệt là bộ phận làm công tác pháp chế.
+ Mọi cơ quan, tổ chức, Đảng viên của Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ HP và PL, thực hiện đúng PL, không can thiệp, làm thay thẩm quyền của cơ quan, đơn vị hoặc của cán bộ, công chức trong cơ quan, đơn vị; phải gương mẫu, kiên quyết chống mọi biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, mọi vi phạm PL.
Câu 6
Trình bày các biện pháp bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính NN?
Trả lời:
1. Bảo đảm thi hành PL
Ở nước ta PL được thực hiện thông qua các hình thức chủ yếu là tuân thủ PL, sử dụng PL và chấp hành PL, trong đó:
- Tuõn thủ PL là hỡnh thức thực hiện PL mà chủ thể quan hệ phỏp luật kiềm chế, giữ mỡnh khụng làm những gỡ mà PL cấm;
- Sử dụng PL là hình thức mà chủ thể thực hiện phỏp luật thực hiện quyền được PL quy định;
- Chấp hành PL là hình thức mà chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý theo quy định của PL;
- Áp dụng PL là hình thức mà chủ thể là cỏc CQNN cú thẩm quyền ỏp dụng cỏc quy phạm phỏp luật vào trường hợp cụ thể đối với cỏ nhõn, tổ chức để giải quyết quyền, nghĩa vụ cho họ hoặc xỏc định trỏch nhiệm phỏp lý đối với họ.
Bảo đảm thi hành phỏp luật là tổng thể cỏc biện phap, phương thức mà cỏc CQNN cú thẩm quyền sử dụng để các chủ thể thực hiện phỏp luật đưa cỏc quy định của phỏp luật vào cuộc sống. Các biện pháp bảo đảm thi hành phỏp luật gồm
- Biện pháp PL: là các biện pháp từ việc tạo ra cơ sở pháp lý cụ thể (ban hành cỏc văn bản quy phạm phỏp luật hoặc văn bản cỏ biệt) để thi hành phỏp luật đến cỏc biện pháp cưỡng chế (hành chớnh hoặc tư phỏp);
- Biện phỏp kinh tế - xó hội (ổn định và phỏt triển cơ sở vật chất, đời sống, điều kiện phương thức kỹ thuật…);
- Biện pháp hành chính điều hành bảo đảm để cỏc chủ thể quan hệ phỏp luật thực hiện các hành vi hợp pháp.
2. Bảo đảm thi hành PL ở địa phương
Ngoài những nội dung trờn, việc bảo đảm thi hành phỏp luật ở địa phương cú những đặc điểm:
Về phạm vi địa bàn:
- Địa bàn địa phương đó được xỏc định một cỏch ổn định và cụ thể;
- Địa bàn hẹp nhưng khụng kộm phần phức tạp, là một xã hội thu nhỏ với trỡnh độ phỏt triển, những nột văn húa, truyền thống, tập quỏn riờng.
Về chủ thể quan hệ PL:
- Cá nhân: là những người dõn bao gồm cả những người lanh đạo và những người dõn thường với trình độ văn húa, học vấn, nhận thức khác nhau, điều kiện bản thõn, gia đỡnh, mức sống, nhu cầu tự do, sở thớch, quyền lợi khỏc nhau.
- Tổ chức: là các chủ thể quan hệ PL cú trỏch nhiệm thực hiện phỏp luật và bảo đảm thi hành PL, đú là cỏc cơ quan thuộc chớnh quyền địa phương, cỏc cơ quan bảo vệ phỏp luật, cỏc tổ chức, cơ quan khỏc trong hệ thống chớnh trị.
Về vai trò của CQNN địa phương và cỏc tổ chức khác trong hệ thống CT.
- Chính quyền địa phương có trach nhiệm: quyết định việc thực hiện cỏc biện phỏp bảo đảm thi hành Hiến phỏp và PL ở địa phương; bảo vệ cỏc quyền và lợi ớch hợp phỏp của cơ quan, tổ chức và cụng dõn; ỏp dụng cỏc biện phỏp phũng ngừa, ngăn chặn cỏc hành vi vi phạm phỏp luật.
- TAND và viện kiểm sat nhõn dõn địa phương: là những cơ quan bảo vệ phỏp luật, bảo vệ lợi ớch của NN, quyền và lợi ớch hợp phỏp của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương.
- Các tổ chức đảng: giữ vai trũ lónh đạo toàn diện trong đó có việc thực hiện phỏp luật ở địa phương. Đảng đề ra cỏc chủ trương, đường lối và yờu cầu cỏc tổ chức và đảng viờn của Đảng gương mẫu trong thực hiện phỏp luật và tuyờn truyền, vận động, kiểm tra việc thực hiện phỏp luật.
- Các đoàn thể và tổ chức XH là lực lượng to lớn trong thực hiện pháp luật của NN và tuyờn truyền, phổ biến và động vien cac hội vien, tổ chức của mỡnh cũng như toàn dõn thực hiện phỏp luật và giỏm sỏt việc thi hành phỏp luật ở địa phương.
Thuận lợi
- Việc bảo đảm thi hành PL ở địa phương được thực hiện bằng nhiều biện phỏp đồng bộ của cỏc cơ quan chớnh quyền địa phương, từ việc thực hiện cỏc chớnh sỏch phỏt triển kinh tế - xã hội ở địa phương đến các biện pháp tuyờn truyền, giỏo dục và thi hành phỏp luật cụ thể.
- Việc bảo đảm thi hành phỏp luật được thực hiện trờn một địa bàn cụ thể, ổn định nên có nhiều thuận lợi về thiờn thời, địa lợi, nhõn hũa.
- Các biện pháp bảo đảm thi hành phỏp luật ở địa phương được xay dựng tren cơ sở phát huy truyền thống văn húa, phong tục tập quan, kết hợp giữa cac quy định chung của phỏp luật với những nột đặc thự của địa phương.
Khó khăn:
- Về cơ sở phỏp lý: việc bảo đảm thi hành phỏp luật ở địa phương được thực hiện trờn cơ sở cỏc quy định của phỏp luật về thẩm quyền của chớnh quyền địa phương. Tuy nhiờn, các quy định hiện hành về vấn đề này cũn quỏ chung chung.
- Tài liệu về cac quy định của phỏp luật, nhất là những văn bản phỏp luật mới được ban hành khụng đỏp ứng kịp thời, cỏc văn bản phỏp luật lại thường xuyờn sửa đổi, bổ sung, nhiều quy định mõu thuẫn, chồng chộo nhau gõy khú khăn cho việc ỏp dụng phỏp luật, nhất là ở cơ sở.
- Điều kiện vật chất, phương tiện, kinh phớ cho hoạt động bảo đảm thi hành phỏp luật, nhất là ở cơ sở rất kho khăn.
- Đội ngũ cán bộ ở địa phương vừa thiếu, vừa yếu, đặc biệt là ở cơ sở.
3. Giải pháp bảo đảm thi hành PL ở địa phương
- Đổi mới hoạt động để nõng cao chất lượng cụng tỏc xõy dựng phỏp luật tạo ra hệ thống phỏp
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét