Hội bài chòi làng Ngô Xá Tây, Triệu Trung, Quảng Trị

7:55:00 SA |
Xem thêm…

BÀI CHÒI QUẢNG TRỊ NGHỆ THUẬT CUỐN HÚT NGƯỜI CHƠI

5:50:00 SA |
BÀI CHÒI QUẢNG TRỊ
 NGHỆ THUẬT CUỐN HÚT NGƯỜI CHƠI
Cái Thị Vượng-Bảo tàng Quảng Trị
     Bài chòi là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian ra đời từ rất lâu ở khu vực duyên hải miền Trung Trung Bộ, trong đó có Quảng Trị. Tại hầu hết các làng Việt cổ truyền trên địa bàn Quảng Trị từ những năm 1945 trở về trước đều tồn tại một hình thức giải trí vào dịp tết - đó là đánh bài tới. Bài tới là một trò chơi giải trí chủ yếu giành cho các phụ nữ ở độ tuổi trung niên trở lên ngồi đánh trên các sạp chiếu và chỉ mang tính chất nhỏ lẽ trong từng gia đình. Về sau, đánh bài tới tại một số làng quê đã phát triển lên một bước mới về quy mô và cách thức, các làng đã cho dựng chòi phía trước sân đình, sân chợ để tổ chức hội bài chòi, cờ chòi trong các dịp xuân đến, thu hút mọi lứa tuổi trong cộng đồng làng gia cuộc chơi. Từ đây, bài chòi thực sự trở thành ngày hội của cộng đồng làng và được dân gian gọi là Hội bài chòi.
Từ đó bài chòi đã trở thành trò chơi dân gian lành mạnh và có sức hấp dẫn mạnh mẽ, cuốn hút công chúng nhất là các tầng lớp bình dân, nhân dân lao động tại các địa phương và đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Quảng Trị và khắp cả các tỉnh miền Trung ngày trước. Vậy điều gì khiến cho người dân Quảng Trị lại đam mê bài chòi đến như vậy? Lý giải cho vấn đề này chúng tôi thiết nghĩ đó không chỉ là những đặc trưng, giá trị văn hóa của bản thân bài chòi mà còn cả nghệ thuật bài chòi Quảng Trị.
1.     Đặc trưng cơ bản trong hội bài chòi dân gian Quảng Trị
- Bài chòi là trò chơi dân gian, bình dân lành mạnh mang tính văn nghệ, giải trí, thu hút mọi tầng lớp nhân dân từ người già đến trẻ nhỏ, thanh niên nam nữ trong vùng kể cả những người khách qua đường. Họ tập trung đến đây để thử vận hên xui đầu năm, việc ăn hay thua là yếu tố không đáng kể. Từ đó bất kỳ ở đâu có hội bài chòi cũng thu hút nhiều người không chỉ đến chơi mà còn thưởng thức những tài nghệ của người chạy bài/ người hô thai từ đó bài chòi trở thành ngày hội của nhân dân trong vùng.  
- Từ tài nghệ của người chạy bài/ người hô thai, bài chòi đã trở thành phương tiện truyền tải những giá trị văn hóa truyền thống của cha ông cho các thế hệ, đó là các câu ca dao, tục ngữ, các tích truyện có nội dung về tình yêu quê hương đất nước, yêu làng xóm, đạo hiếu với ông bà tổ tiên, nghĩa tình sâu đậm vợ chồng ... Đây là các lời dạy, lời chỉ bảo của cha ông truyền qua bao thế hệ. Đây chính là mấu chốt là chất keo để gắn kết cộng đồng làng xóm.
- Bài chòi mang giá trị đặc trưng về mặt nghệ thuật âm nhạc bình dân đó là các tiết tấu dân gian quen thuộc, dể hiểu dể tiếp thu.
- Các câu thai trong bài chòi mộc mạc, chân chất phù hợp với cuộc sống của người lao động tại các làng quê nhưng vẫn hàm chứa nội dung sâu xa mang đặc trưng của dòng văn học, thơ ca bình dân nhưng đây là tiền đề để sau này dòng văn học hiện đại ra đời.
 2. Những giá trị văn hóa trong bài chòi Quảng Trị








- Đây là trò chơi để giải trí, thỏa mãn tinh thần của người lao động trong dịp xuân về, bài chòi đem lại sự hồ hởi sảng khoái sau những tháng ngày lao động mệt nhọc bởi những sự lo toan trong cuộc sống đời thường. Bài chòi lại không gắn bó với các việc tế lễ mà đơn thuần chỉ là trò giải trí, đó là hội mà lại là hội xuân nên thu hút đông đảo người chơi.
- Hội bài chòi là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, là phương tiện giao lưu tình cảm bền chặt, gắn bó cố kết cộng đồng bởi vì họ chính là người tổ chức, người chơi, người xem, lại là các nghệ nhân sáng tác các câu thai, là người nghệ sĩ tài ba trong việc ứng biến và hô các câu thai... Đây chính là những nhân tố trực tiếp thúc đẩy thu hút người chơi  đến với hội bài chòi dân gian.
- Hội bài chòi khơi nguồn cảm hứng sáng tạo cho mọi người, từ những cái đã có càng ngày các câu thai càng được bổ sung và có sức sống rất mãnh liệt nó tồn tại và trải dài theo thời gian mặc dầu mảnh đất Quảng Trị trải qua biết bao thăng trầm dâu bể của chiến tranh và ly loạn.
3. Nghệ thuật trong cách chơi và thể lệ chơi
Theo nghiên cứu bước đầu ở một số làng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có 3 cách chơi bài chòi cơ bản và dựa vào đó để người ta dựng và bố trí các chòi chơi như sau:
-  Cách thứ nhất: Tại làng Ngô Xá Tây -Triệu Trung  (huyện Triệu Phong)
Dựng 11 chòi con (chòi quân) được bố trí theo hình chữ U, 1 chòi cái (chỉ huy giành cho ban tổ chức và ban nhạc cổ) nằm đối diện.
Ban tổ chức phân bộ bài thành 11 phần bất kỳ, mỗi phần 5 con gọi là tay bài, 01 con để người chạy bài/ người hô thai đi chợ, còn lại 4 con nhưng phải là 2 cặp do Ban tổ chức giữ lại (có thể là 2 cặp bài bất kỳ trong bộ bài tới). Khi ban tổ chức thông báo vào cuộc chơi thì người chạy bài mang các tay bài đến các chòi, mỗi chòi được quyền rút ngẫu nhiên 1 tay bài và để lại một con làm con đi chợ. Các chòi con mỗi lần đi hai con, con cuối cùng dùng để "chực tới". Khi chòi nào thắng cuộc thì dùng mõ để báo hiệu (mỗi lần đi thì đánh một hồi 3 tiếng, nếu thắng thì đánh hồi dài).
- Cách thứ hai: Tại làng Hà Thượng - Thị Trấn Gio Linh  (huyện Gio Linh)
 Dựng 10 chòi con, chia làm 2 phía 1 chòi ở chính giữa là chòi trung tâm hay còn gọi là chòi cái. Bộ bài chơi sơn 2 màu 30 quân xanh và 30 quân đỏ
Theo quy định của ban tổ chức, hội chơi được chia làm 2 phe (mỗi phe 5 chòi ở cùng một phía). Sau đó người chơi mua vé để lên chòi chơi, trên vé có đánh số chòi, người chơi mua trúng chòi nào thì lên chòi đó. Khi người chơi đã lên đủ trên các chòi thì hai người chạy bài/hô thai tiến hành phát bài cho 10 chòi quân, mỗi chòi được chọn ngẫu nhiên 3 con bài, 30 con bài còn lại dốc ngược chỉ chừa lại phần chân đặt trong ống tre ở chòi cái.
Sau khi các chòi đã chọn xong bài, người chạy bài/ hô bài thai bước đến ống tre đựng cờ ở chòi cái, xóc đi xóc lại rồi chậm rãi rút từng con bài. Mỗi lần rút bài người chạy bài/ hô bài thai  hô câu thai tên con bài. Chòi nào có đúng quân bài đó thì người chơi cầm mõ gõ lên ba tiếng cắc, cắc, cắc hoặc xướng to lên "ăn rồi" thì người chạy bài/ hô bài thai sẽ sai ngưòi phụ việc đến trao cho một cây cờ đuôi nheo nhỏ. Đến lúc chòi con nào ăn đủ 3 con (được 3 cờ) thì hô "tới" và gõ một hồi mõ kéo dài, lúc này âm thanh của các nhạc cụ vang lên báo hiệu có người thắng/tới. Thông thường cuộc chơi từ 8 đến 10 hiệp là hết một ván bài chòi, lưu lại một hiệp/ ván cho ban tổ chức dùng để chi phí và sau đó tiếp tục kẻ bước xuống người bước lên chòi chơi ván khác.
- Cách thứ ba: Tại làng Đơn Duệ -Vĩnh Hòa (huyện Vĩnh Linh) dựng 10 chòi và chia làm 2 phe
Ban tổ chức phân bộ bài thành 2 phần, mỗi phần 30 con gọi là quân xanh - quân đỏ tương ứng với hai dãy chòi hai bên. Mỗi bên có một người chạy bài. Khi ban tổ chức xáo bài xong thì người chạy bài của mỗi bên cầm phần bài của mình đến các chòi, mỗi chòi được quyền rút ngẫu nhiên 5 con bài, riêng chòi trung tâm (chòi cái) được phát 6 con bài (mỗi người chạy bài phát 3 con) đội nào phát bài chậm thì con cuối cùng của đội đó làm con đi chợ. Bốn con còn lại được giữ ở chòi Cái nhưng phải là 2 cặp bài bất kỳ. Các chòi con mỗi lần đi hai con, con cuối cùng dùng để "chực tới" (riêng 3 con bài tử, ầmđỏ mỏ không được “chực”). Khi chòi nào thắng cuộc thì dùng mõ để báo hiệu.
          4. Nghệ thuật của người chạy bài/ hô thai trong hội bài chòi
Như chúng tôi đã đề cập ở phần trên, bài chòi là mội trong những hình thức nghệ thuật dân gian sinh động bởi bản thân nó đã có sự kết hợp khéo léo cả thơ ca, ca dao, tục ngữ với nhạc cổ truyền qua lối ứng tác, diễn xuất độc đáo và nhanh nhạy; tất cả đó được được thể hiện qua khả năng trình diễn, đối đáp và thách đố của người chạy bài/ người hô thai trong hội bài chòi. Họ chính là những nông dân mộc mạc chân chất trong cuộc sống lao động bổng hóa thành những diễn viên trong các hội bài chòi. Những nét mộc mạc chân chất mang đậm tính dân gian ấy đã tạo ra nét đẹp hồn nhiên hiệu quả thu hút hấp dẫn người đến với hội chơi. Có thể khẳng định người hô thai là linh hồn, là sức sống quyết định thành công trong hội bài chòi
Người chạy bài vừa là người hô thai để thách đố các bạn chơi trên tất cả các chòi; do vậy các câu hô thai luôn biến đổi không theo một bài bản nhất định để tránh sự nhàm chán nhưng hàm nghĩa phải sát đúng với con bài để người chơi đoán định. Người chạy bài phải là người nghệ sĩ tài hoa thông thuộc nhiều câu ca dao, tục ngữ cũng như các tích tuồng để thách đố các chòi chơi và phe chơi của quân mình khi chia làm 2 phe. Họ phải là người tài trí thông minh, nhanh nhạy ứng biến vạn trạng của người hô thai mà người Quảng Trị quen gọi là “hò mui miếng” để khen ngợi ví von họ. Trong tất cả 30 con bài của bộ bài tới cứ mỗi con bài thường được ứng với một hay nhiều câu thai. Mỗi câu thai được hô theo những làn điệu, tích tuồng khác nhau mà người ta dựa vào đó để sáng tác. Lời câu thai không bóng bẩy, cầu kỳ mà mang tính hồn nhiên, trong trẻo dễ nhớ. dễ ăn sâu và đi vào lòng người. 
Vừa là người nghệ sỹ, vừa là nhà thông thái nhưng chính họ lại là nghệ sỹ hài mua vui chi bà con cô bác có mặt trong hội chơi. Từ bộ mặt đến dáng điệu của người chạy bài/ hô thai có sự kết hợp nhuần nhuyễn để thể hiện sát đúng với nội dung con bài tuy vậy vẫn gây được tiếng cười cho khán giả, nhưng vẫn ở mức độ chừng mực, ý tứ để mọi người có mặt ngẫm lâu cười khoái. Tất cả hình thức bên ngoài của họ đều chỉ mang tính phụ họa gây cười tạo không khí vui vẽ cho người đến dự hội bài chòi đầu năm. Theo những người có mặt trong hội bài chòi thì niềm vui này là vận may, vận phúc đến với họ trong suốt cả năm mới.    
Mặc dầu không cầu kỳ như những diễn viên lên sân khấu với các trang phục lộng lẫy đẹp mắt; người chạy bài /hô thai thường sử dụng trang phục thường ngày của họ đó là bộ bà ba truyền thống của người Quảng Trị, để phân biệt với khán giả trong hội chơi có chăng họ chỉ điểm xuyến thêm một vài chổ như thắt nơ trên đầu hay buộc đai bên hông. Thế là họ đã trở thành một diễn viên nghiệp dư đang diễn cho người dự hội là hàng trăm khán giả. Các động tác biểu diễn của họ không có bàn tay của đạo diễn sân khấu, không có nghệ thuật hay kỷ thuật giàn dựng mà tất cả là sự ngẫu hứng nên hoàn toàn không bài bản hay quy cách nào. Thông thường mỗi cuộc chơi thường có hai đến 4 người thay đổi nhau để hô thai.
Ngôn ngữ các câu hô thai chân chất dung dị. lời thơ mộc mạc chân quê hợp tình, hợp lý. Nếu nói thì nói theo kiểu ngụ ngôn, thành ngữ hay dùng ngắn gọn, dễ nhớ. Nếu hề thì đi theo lối truyện tiếu lâm dân gian. Nếu thách đố thì rất tục và dân giả nhưng giải nghĩa thì thanh thoát đến lạ lùng. Ví dụ để thách đố con Đượng có các câu thai:
Đò em đưa đón bộ hành,
Ghe con một chiếc tứ anh trọn bề,
Trải qua mưa nắng dầm dề,
Quanh năm chèo chóng tứ bề sóng xô,
Tiếng ai văng vẵng gọi đò,
Mau mau nhổ nọc chèo qua đón người
hay: Em ơi răng mà xem lên thì sáng ràng sáng rạng,
Ngó lên đã thấy mặt trời.
Vì em sa giấc ngũ nên con bướm anh vô chơi lộng chừng.
Hoặc con Ngũ
Chợ đang đông răng em không ra giảo lượn hơn thua.
Để mần chi cho chợ tan quán tắt thì vò vọ với cua ghềnh em cũng quơ.
hay: Tham chi cờ bạc anh ơi,
Đêm đi ngày ngũ mọi người cười cho.

Con Gối:
Đêm nằm nghe vạc kêu sương,
Xuân về lòng nhớ người thương chung tình.
Nhưng có cách hô khác:
Ngó lên trên trời thì thấy tàu bay tợ dường như con én liệng
Ngó xuống dưới đất thì thấy tàu điện chạy liên miên
Ơi tình ơi nợ ơi duyên.
Có nơi mô kết vấn thề nguyền.
Để mần chi bữa ni chờ bữa mai đợi để lợ căn duyên bạn cười.
Với các dụng cụ trong đội nhạc cổ truyền thống như: trống, đàn nhị, sanh. kèn đã hổ trợ rất nhiều cho người hô thai và các động tác diễn xuất. Bà con xa gần đến hội đều ước muốn được nghe tiếng hô hay của người chạy bài với nhiều câu thai mới lạ hòa đồng với tiếng nhạc tiếng đàn truyền thống thế là đã thu hút được người chơi.
Có thể khẳng định với những đặc trưng cơ bản, những giá trị văn hóa truyền thống, nghệ thuật và thể lệ chơi khá phong phú và đa dạng và khác xa so với một số tỉnh ở miền Trung, cùng với sự tài hoa của người nông dân hóa thân làm nghệ sỹ đang diễn trên sân khấu quê nhà ... Tất cả thế là đủ để làm thỏa mãn mong ước của người chơi và dân chúng xa gần, đó chính là sức hút mạnh mẽ trong hội bài chòi Quảng Trị.


Xem thêm…

LỄ HỘI CẦU NGƯ Ở LÀNG PHÚ HỘI

8:55:00 CH |
Cái Thị Vượng - Bảo tàng Quảng Trị
Xem thêm…

NGHỀ LÀM GIẤY Ở LÀNG PHỔ LẠI.

8:21:00 CH |
Tác giả: Cái Thị Vượng - Bảo tàng Quảng Trị.
Ảnh minh họa

Xem thêm…

Thành hoàng Việt ở Quảng Trị

8:15:00 CH |
Tác giả: Cái Thị Vượng - Bảo tàng Quảng Trị

Miếu Thành hoàng làng(Triệu Long)
Trong tất cả hệ thống thần linh được thờ cúng ở làng xã Quảng Trị, thì thờ cúng Thành hoàng là nét sinh hoạt văn hoá - tín ngưỡng tiêu biểu nhất. Thành hoàng là một vị thần tối cao trong đời sống tâm linh của người dân các làng xã, ngự trị trên cõi thiêng để thực hiện một sứ mệnh là cai quản, che chở và giúp rập cho cả làng; vì thế thần là chổ dựa tinh thần vững chắc nhất cho tất cả mọi người dân. Thờ cúng Thành hoàng được phổ biến từ xưa và lưu truyền lại cho đến ngày nay ở cộng đồng làng xã người Việt, được họ coi trọng như thờ cúng tổ tiên trong gia đình của mình và trở thành đạo lý, lẽ sống của người dân Quảng Trị. Trong tâm thức sâu kín của người dân, Thành hoàng là biểu tượng quyền lực tinh thần tối cao của cả làng, thần có thể chi phối đời sống tinh thần - vật chất của cư dân làng đó. Có thể nói làng xã người Việt Nam nói chung và Quảng Trị nói riêng tồn tại vững chắc hàng ngàn năm nay là bởi nó giữ được truyền thống về làng mà Thành hoàng và ngôi đình là một biểu tượng, một thành tố quan trọng tạo nên cái tốt đẹp đó.
Các vị Thành hoàng được người Việt vùng Quảng Trị thờ cúng ở những ngôi đình, chùa, miếu... khá phong phú và đa dạng, thể hiện bằng các tập hợp Thành hoàng mà trải qua hàng thế kỷ vẫn tồn tại đến ngày nay. 
         1. Tập hợp Thành hoàng có gốc khởi nguyên là nhiên thần.
         Trong số các tập hợp Thành hoàng được người Việt ở Quảng Trị thờ cúng thì có lẽ tập hợp các vị Thành hoàng có gốc khởi nguyên là nhiên thần với những yếu tố mang dáng dấp cổ sơ được sao chép từ đất Tổ xứ Bắc, cùng các vị Thành hoàng là nhiên thần đã được cụ thể hoá, tôn giáo hoá lên trong quá trình vận hành từ sự thăng hoa tâm lý của người dân trên vùng đất mới rồi đưa vào thờ cúng chiếm số lượng đông đảo nhất.
Xuất phát từ ý thức về hồn thiêng sông núi, người Việt ở Quảng Trị đã sớm có suy nghĩ về thờ thần núi, thần sông, gọi "âm phù dương thế" cùng con người gìn giữ và xây dựng quê hương. Một khía cạnh khác quan trọng hơn nữa đó là việc con người ở vùng đất này từ bao đời nay luôn gắn cuộc sống của mình với sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước nên người Việt cổ rất sùng bái các hiện tượng tự nhiên, họ thấy đâu đâu cũng có thần "thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề", đến các hiện tượng tự nhiên của thời tiết như: trời, đất, mây, mưa, trăng, sao... những điều đó tốt lành hay bất trắc của thiên nhiên không khỏi khiến cho con người ý niệm có thần chi phối vào đời sống của con người. Thần có thể bảo hộ, tưởng thưởng, hoặc trừng phạt, răn đe cho dân làng. Vì vậy, họ luôn thờ cúng cầu mong các vị thần ban cho họ "phong đăng hoà cốc" dân làng có cuộc sống ấm no hạnh phúc.
  Việc tôn thờ rồi tấn phong thần "Mặt Trăng" lên làm Thành hoàng của làng Nghĩa An (Thành phố Ðông Hà) là một minh chứng cụ thể. Làng Nghĩa An là một làng chuyên sản xuất nông nghiệp lúa nước với những yếu tố thờ cúng thiên nhiên nguyên sơ, lại nằm bên bờ Hiếu giang là mạch nối giao thông, kinh tế cả một vùng rộng lớn; Trong không gian khá thuận lợi về địa lý thì quá trình giao lưu văn hoá chắc chắn sẽ nảy sinh để rồi dung nạp được nhiều yếu tố mới. Chính các điểm trên đã giúp cho Hổ phù - vị thần nông nghiệp có mặt ở hầu khắp các nước Đông Nam Á trở thành vị Thành hoàng chế ngự cao nhất trên cỏi thiêng của làng Nghĩa An, với mục đích cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt bội thu.
Đương cảnh Thành hoàng Thổ Địa chính thần” và “Bổn thổ Thành hoàng Sát Hải linh ứng chính thần” là hai vị Thành hoàng mà dân làng Phú Hải (Hải Ba - Hải Lăng) tôn thờ; đều xuất phát từ chuyện tích về việc chiếm cứ đất đai của người Chăm để lập nên làng mới, đến việc sống gần kề biển Đông cùng những chuyến buôn bán ngược xuôi trên các trục sông, biển. Do vậy, việc thờ thần Thổ Địa (thần đất) thần Sát Hải (thần biển) rồi tấn phong lên làm Thành hoàng của làng Phú Hải không ngoài mục đích cầu mong các vị thần cai quản, giúp rập cho dân làng tránh khỏi những tai ương; đồng thời khẳng định chủ quyền của người dân đến lập nghiệp trên vùng đất mới với các thế lực siêu nhiên của người bản địa.
Các vị Thành hoàng ở Quảng Trị đa số là nhiên thần, bên cạnh một số vị thần kể trên thì số đông ở các làng (Hà Thượng, Hà Trung - Do Linh; Câu Nhi, Câu Hoan, Diên Sanh - Hải Lăng… ) đều  thờ một vị Thành hoàng chung chung, không có lai lịch rõ ràng, cụ thể hoặc các sự kiện truyền thuyết liên quan, nhưng khi đã được người dân tôn sùng thì đó là sự phản ánh những quan niệm về tư tưởng, nguyện vọng, ước muốn, tình cảm của mình trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ bảo vệ cuộc sống cộng đồng. Các vị Thành hoàng ở Quảng Trị có nguồn gốc siêu nhiên cũng được xem như là ông tổ của cộng đồng làng, là người thống lĩnh cả tập thể dân làng ở cỏi thiêng.
2. Tập hợp Thành hoàng có gốc là nhân thần.
Khác với các vị Thành hoàng có gốc khởi nguyên là nhiên thần, các Thành hoàng là nhân thần đều có gốc tích, lai lịch rõ ràng, việc làm của thần là các hành động nghĩa cử của một con người bằng xương bằng thịt và các cống hiến của thần đều có liên quan ít nhiều đến lịch sử cụ thể của các làng,  của dân tộc và đất nước. Các võ bọc bên ngoài của thần là các câu chuyện huyền tích mang tính giáo dục và hướng các thế hệ cháu con vào những việc có ích cho cuộc sống.  Tất cả họ đều được nhân cách hoá để trở thành các vị phúc thần đầy đủ quyền uy và thế lực nhằm bảo vệ dân làng trên cỏi thiêng .
Bên cạnh việc thờ cúng các vị Thành hoàng là nhiên thần, người Việt ở Quảng Trị cũng rất coi trọng việc cúng tế, thờ phụng các vị Thành hoàng nhân thần, là những người đã mất, ở đó họ thể hiện lòng hiếu thảo của những người sinh sau đối với các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước, hoặc là những bậc cha ông đã sinh thành nuôi dưỡng lập nên làng xã và đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con cháu dân làng làm ăn sinh sống. Việc cúng tế không ngoài mục đích là bày tỏ lòng thành kính của cả một tập thể dân làng đối với những người có công với làng, với nước giúp cho dân làng có được cuộc sống cơm no, áo ấm; đồng thời truyền cho họ ý chí và sức mạnh để chống lại các thế lực thù địch của thiên nhiên và ngoại xâm. Truyền thống này bắt nguồn từ đạo lý “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Người dân Quảng Trị xem những vị anh hùng là những người đứng mũi chịu sào, trong cuộc chống thiên tai, địch hoạ vô cùng khốc liệt mới tồn tại và đứng vững được trên mảnh đất này. Giá trị của sự tồn tại ấy thiêng liêng, cao quý vô cùng và nó được hình thành rất sớm ở cộng đồng người Việt trên vùng đất Quảng Trị. Từ những suy nghĩ và nhận thức trên nên nhân dân làng Lam Thuỷ (Hải Vĩnh - Hải Lăng), đã tôn vinh Hưng Ðạo vương Trần Quốc Tuấn - vị tướng lĩnh tài ba của triều Trần lên làm Thành hoàng của làng mình. Một số làng khác cũng đã phong Thành hoàng của làng mình là các vị tiền khai khẩn và cũng là thuỷ tổ các dòng họ - người đã có công khai sơn phá thạch lập nên làng xã trong buổi đầu đến định cư ở vùng đất mới như: làng Thuỷ Trung (Vĩnh Trung - Vĩnh Linh), làng Hà Xá (Triệu Ái - Triệu Phong)...
Có thể nói, những vị Thành hoàng là nhân thần ở các làng trên vùng đất Quảng Trị mỗi vị đều có một sự tích rất đáng tôn vinh và đều là niềm tự hào, ngưỡng vọng của người dân.
3. Tập hợp Thành hoàng có gốc là thần Chăm
và thần Trung Quốc.
Ngoài tập hợp các vị Thành hoàng có gốc khởi nguyên là nhiên thần; tập hợp các vị Thành hoàng là những nhân thần vốn có gốc là các nhân vật lịch sử có công với nước, với dân qua các thời đại thì ở vùng đất Quảng Trị còn có một số các vị thần Chăm, thần Trung Quốc đã trở thành các vị Thành hoàng của người Việt.
          Người dân Việt trên vùng đất mới tuy mang dấu vết chung của lớp lưu dân sẵn trong mình truyền thống quê gốc nhưng cũng có nhiều điểm riêng biệt. Trong khi trung tâm Ðại Việt ở phía Bắc vẫn phát triển theo hướng Nho giáo hoá và tác động trực tiếp về phía Nam qua những đợt di dân thì vùng đất Ðàng Trong vốn là nơi có quá khứ huy hoàng mà sự tàn tạ của quyền lực trần thế trong hiện tại càng làm tăng độ uy hiếp tinh thần đối với những người vừa mới đến làm chủ vùng đất mới. Do vậy, cùng với quá trình chuyển hoá quyền sở hữu đất đai, quyền sở hữu các công trình văn hoá là sự cũng cố niềm tin bằng cách tạo ra các câu chuyện mang tính huyền thoại để chuyển hoá một cách hợp lý cái của người vào cái của ta. Ðó là huyền thoại về sự cộng cư và chuyển nhượng quyền sở hữu  các vùng đất giữa các bộ phận cư dân Chăm - Việt và những huyền thoại về di tích Chăm. Cả hai vấn đề trên thực ra đều nhằm vào mục đích là hợp thức hoá chủ sở hữu đối với tất cả những gì thuộc về lớp cư dân Chăm tiền chủ, thành cái của lớp cư dân Việt mới. Bởi vậy, nhiều câu chuyện, truyền thuyết về các vị thần đã có mặt hầu khắp nhiều làng quê Quảng Trị, trong đó có thần Thành hoàng. Có thể nói, trong hệ thống thần linh được thờ cúng tại các làng xã của đa số cư dân người Việt ở vùng đồng bằng Quảng Trị đều có mặt các vị thần Chăm, dù số đông họ chưa được tấn phong lên làm Thành hoàng nhưng vẫn được người dân và nhà nước phong kiến đồng ý tôn thờ, người dân thường ở các làng xã biến các thần Chăm thành các thần Việt, cải biên lai lịch, gốc tích của thần hoặc không cần biết lai lịch với mục đích tìm sự bảo trợ của thần bản xứ trên vùng đất mình cư trú, còn chính quyền quân chủ thì chấp nhận sự thờ cúng với mục đích là xoa dịu hận thù và lôi kéo phe cánh trên cỏi thiêng. Hơn nữa, người Việt họ cũng sẳn sàng tiếp nhận các vị thần linh của các tộc người cùng cộng cư - người Hoa để từ đó hoà nhập vào cuộc sống tâm linh của dân tộc mình. Ðể rồi từ đó các vị Thành hoàng người Việt ở làng Phương Sơn và An Lưu (Triệu Sơn - Triệu Phong) lại có cả thần Chăm - thần Siva. Làng Diên Sanh (Hải Thọ - Hải Lăng) suy tôn Quan Thánh Đế Quân (Quan Vũ) một nhân vật lịch sử thời Tam Quốc - người nổi tiếng cương trực, trung nghĩa, dũng cảm... làm Thành hoàng. Làng Hà Lộc ( Gio Hải- Gio Linh), làng Câu Nhi (Hải Tân - Hải Lăng), làng Thi Ông (Hải Vĩnh - Hải Lăng)... đều tấn phong các vị thần có gốc ở Trung Quốc lên làm Thành hoàng của làng mình.
Tuy các vị Thành hoàng có gốc là thần Chăm hay thần Trung Quốc nhưng mỗi khi đã được nhân dân lựa chọn làm vị thần tối cao của cả làng thì họ đều được thờ cúng với một tấm lòng thành kính, trân trọng chẳng khác các vị thần linh của đất Việt. Lúc này các vị thần không còn là Thành hoàng của xứ sở bản địa mà trở thành thần linh của người Việt, để giúp đỡ, ban phước lành cho toàn thể dân làng.
          Tóm lại, trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về tín ngưỡng thờ cúng Thành hoàng ở một số làng xã trên vùng đất Quảng Trị chúng tôi thấy rằng: Hệ thống các vị Thành hoàng được người dân Quảng Trị thờ cúng khá phong phú và đa dạng, đó là sự dung nạp các tập hợp Thành hoàng bao gồm cả hệ thống nhiên thần lẫn nhân thần, một số vị thần bản địa - thần Chăm và  các vị thần nhập cảnh có gốc ở Trung Quốc. Tất cả họ dù ở dưới dạng nào cũng là những vị phúc thần có công với đất nước, với làng xã, hoặc trực tiếp hay dán tiếp đem lại sự ấm no, hạnh phúc của người dân, ngăn chặn những tai hoạ xấu xa đến với dân làng. Các vị thần dù ở hình thức nào nhưng mỗi khi đã được người dân tấn phong lên làm Thành hoàng của làng mình thì đều được tôn lên thờ tự ở hàng nhất đẳng, và được coi là một vị vua tối cao trị vì cả tập thể dân làng ở cỏi thiêng. 
Xem thêm…

THẠCH HÃN GIANG - NHỮNG DẤU ẤN VĂN HÓA.

7:23:00 SA |
Tác giả: Cái Thị Vượng_Bảo tàng Quảng Trị
Xem thêm…

Sắc phong Thần ở Quảng Trị - Những di sản văn hóa cần giữ gìn.

3:22:00 CH |

Tác giả: Cái Thị Vượng - Bảo tàng Quảng Trị

Sắc phong cho các vị thần làng ở Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung, là một loại hình văn bản Hán Nôm quan trọng trong hệ thống các văn bản cổ được nhân dân vùng đất Quảng Trị từ thế hệ này sang thế hệ khác bảo vệ, tôn thờ và xem là một báu vật vô giá của các bậc tiền nhân trao lại. Hiện nay, các sắc phong đều được người dân làng xã gìn giữ, thờ cúng ở các ngôi đình, chùa, miếu, nhà thờ các họ tộc... của làng mình. Đây là những tài liệu quý lưu giữ phong tục, tập quán, tín ngưỡng thờ thần ở các làng cụ thể.
        Sắc phong cho các vị thần làng ở Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung, là một loại hình văn bản Hán Nôm quan trọng trong hệ thống các văn bản cổ được nhân dân vùng đất Quảng Trị từ thế hệ này sang thế hệ khác bảo vệ, tôn thờ và xem là một báu vật vô giá của các bậc tiền nhân trao lại. Hiện nay, các sắc phong đều được người dân làng xã gìn giữ, thờ cúng ở các ngôi đình, chùa, miếu, nhà thờ các họ tộc... của làng mình. Đây là những tài liệu quý lưu giữ phong tục, tập quán, tín ngưỡng thờ thần ở các làng cụ thể. Là mảng tư liệu quan trọng góp phần nghiên cứu tìm hiểu về mặt lịch sử - văn hoá truyền thống của vùng đất Quảng Trị.
        Qua thực tế nghiên cứu, thì đến nay các tài liệu văn bản cổ kể cả sắc phong ở vùng đất Quảng Trị còn lại không nhiều. Bởi từ xưa, vùng đất này được coi là trọng trấn, trấn biên, là phên dậu phía Nam của tổ quốc; nơi đây các cuộc chiến tranh liên miên, ác liệt thường xuyên xảy ra. Hơn nữa, thiên nhiên khắc nghiệt nắng lắm với nạn hoả hoạn, mưa gió nhiều kèm theo bão lụt thường xuyên đã góp một phần không nhỏ huỷ hoại tài sản, các công trình kiến trúc, nhiều cổ vật, tài liệu... của người dân trong đó có cả sắc phong. Nhiều làng ở vùng Quảng Trị cho đến nay không còn giữ được một văn bản, tài liệu gì liên quan đến làng quê của mình qua các thế kỷ trước. Tuy nhiên, cũng có một số làng còn lưu giữ được gần như khá nguyên vẹn: làng Hà Lộc (Hải Sơn - Hải Lăng) ngoài các văn bản Hán Nôm cổ nhân dân còn giữ được hơn 30 sắc phong do triều đình phong kiến ban tặng. Làng Diên Sanh (Hải Thọ- Hải Lăng), làng Trung Yên, An Lợi (Triệu Độ-Triệu Phong), làng Ai Tư (Triệu Ái - Triệu Phong)... còn lưu giữ được khá nhiều.
           Ngoài việc phát hiện hai sắc phong thời Tây Sơn tại làng An Mỹ(1) (Gio Linh), thì đến nay chúng tôi vẫn chưa tìm thấy một sắc phong nào vào các triều đại trước. Có thể nói sắc phong cho các vị thần ở vùng đất Quảng Trị hiện còn chỉ có vào thời các vua Nguyễn, thuộc thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX; nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào đầu đời vua Minh Mạng (1820) đến cuối đời vua Khải Định (1924).
          Sắc phong thời Nguyễn được làm trên một tờ giấy khá đặc biệt có bản mịn, màu vàng sẫm hình chữ nhật (khoảng 130 cm x 50 cm). Cả 2 mặt đều được trang trí hoa văn dày đặc. Mặt trước của sắc được trang trí hoa văn ”Long ẩn vân”, các đường diềm xung quanh sắc được nối ghép hồi văn chữ Vạn, được phủ màu ánh bạc. Bên phải sắc là một bài toàn văn chữ Hán, đây là nội dung của sắc phong do triều đình phong cấp. Nội dung bản toàn văn này ghi quan tước, chức hàm, danh hiệu ban tặng cho vị thần. Bên trái có dòng lạc khoản và thường có dấu “sắc mệnh chi bảo”. Mặt sau của sắc phong trang trí “tứ linh” (long, ly, quy, phụng). Đây là các con vật linh thiêng trong đời sống của người dân vào các thế kỷ trước. Tuy vậy, cũng có một số sắc vào đời vua Đồng Khánh (1885 - 1888) mặt sau trang trí thư sách và hình một chiếc lá. Bốn góc cả mặt trước và mặt sau đều có hồi văn chữ Thọ lồng trong khung tròn.
          Việc cho đến nay ở vùng đất Quảng Trị chưa tìm thấy một sắc phong nào vào thời vua Gia Long (1802 -1819), mặc dù qua nghiên cứu chúng tôi được biết, đợt ban sắc sớm nhất của triều đình Nguyễn là vào giai đoạn này. Gia Long năm thứ 2 (1803) nhà vua đã xướng chiếu: “Chiếu cho Bắc thành và các trấn Thanh Nghệ, những đền thờ thần ở các huyện xã trừ bỏ các dâm từ và không có công đức sự tích; còn thì hiện có công đức sự tích là bao nhiêu vị, đều cho làm sổ đệ tâu chờ phong” (2). Sắc phong được ban cấp dưới thời vua Gia Long có lẽ do bị hạn chế một số mặt như giấy sắc, chữ viết, bố cục trình bày... nên khi vừa mới lên ngôi vua Minh Mạng đã cho thu hồi toàn bộ bằng sắc của đời trước để cải tổ lại nhằm hoàn thiện hơn. Năm 1821, vua Minh Mạng dụ: “Các thần trước kia phong mỹ tự quá nhiều, mỗi lần được gia phong lại đeo thêm xuống dưới, lâu về sau sẽ không viết hết được. Nay nên dùng chữ phong mới viết vào sắc và còn chữ cũ bớt đi thì phải”. Đến năm 1823 quy định: “Phàm thần hiệu ở hàng trên thì tặng 3 chữ mỹ tự là Thượng đẳng thần, ở hàng giữa thì tặng 2 chữ mỹ tự là Trung đẳng thần ở hàng dưới thì tặng một chữ mỹ tự là Chi thần” (3). Có lẽ vì những lý do trên nên cùng vào triều các vua Nguyễn nhưng sắc phong Gia Long hiện nay còn rất hiếm. Những sắc phong được ban cuối cùng vào thời vua Bảo Đại (1925 -1945) nay cũng còn rất ít.
           Mỗi triều vua vào các dịp đăng quang, lễ đại khánh... nhà vua mới điều bộ lễ sữa soạn ban sắc phong thần. Sau khi được các địa phương kê khai, bộ lễ có nhiệm vụ xem xét mới trình tâu vua phê chuẩn. Có lẽ vì thế mà mỗi cá nhân hay làng xã phải cất giữ sắc thật cẩn thận; nếu bị thiên tai, hoả hoạn thì việc xin cấp lại còn tương đối dễ dàng, còn để  thất lạc vì bất cẩn thì bị trừng phạt đích đáng. Năm Minh Mạng 18 chuẩn lời tâu: “Cấp lại một đạo thần sắc vị Thành hoàng phường Xuân An, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị, lý trưởng xã ấy để không cẩn thận, để cho đứa trẻ chăn trâu không biết gì tự tiện đem đốt đi, lý trưởng ấy phạt đóng gông bêu một tháng, đánh 100 trượng bãi dịch; bọn trẻ chăn trâu không biết gì, không phải xét kỷ, còn gia trưởng bọn chăn trâu ấy không ngăn cấm đều phạt 80 trượng”(4).
           Nghiên cứu sắc phong một lần nữa chúng tôi khẳng định: Hệ thống thần linh được người dân Quảng Trị thờ cúng rất phong phú và đa dạng bao gồm đầy đủ các vị nhiên thần, thiên thần, nhân thần, các vị thần từ đất Bắc, các vị thần Chăm, thần Trung Quốc...Tuy nhiên, không phải làng nào cũng thờ cúng đầy đủ các vị thần mà họ còn tuỳ thuộc vào vị trí địa lý, phong tục tập quán, lối sống ngành nghề... để người dân tôn thờ các vị thần cho phù hợp với ước vọng mong muốn của mình.  Bởi thế những làng nghề ven biển và làm nghề biển người dân thờ thần Sác Hải, Long Hải... để cầu mong những chuyến xa khơi nay mắn. Những vùng sơn địa người dân luôn thờ thần Cao sơn, Cao các...Vị thần mà làng nào cũng thờ đó là”Bổn thổ thành hoàng”. Bởi ngài là vị thần tiêu biểu đại diện cho quyền uy của cả làng. Các vị nhân thần là những người tiên phong khai sáng cơ nghiệp thì hầu như làng nào cũng được triều Nguyễn ban sắc phong thần. Đây chính là những vị tiền nhân mở mang gìn giữ đất nước, xóm làng để truyền lại cho con cháu đời sau.
            Qua sắc phong chúng ta thấy rõ sự ghi nhận của nhà nước phong kiến về công lao của các vị thần về một dòng tộc hay một làng đã có công lao trong việc “hộ quốc tý dân”. Đó là sự tôn vinh những nhân vật (dù có thật hoặc không có thật) để thoả mản nhu cầu tín ngưỡng của người dân trong các làng xã. Vì vậy, sắc phong được người dân thờ phụng và coi đó là một báu vật của tiền nhân để lại. Ngoài ra, khi nhìn vào đạo sắc cũng phản ánh phần nào trình độ về kỹ thuật làm giấy viết sắc, nghệ thuật trang trí và thư pháp vào các thời trước. Đặc biệt, niên đại ghi ở sắc phong đầy đủ và chính xác (ở dòng lạc khoản). Ví dụ: Tự Đức tam niên cửu nguyệt tam thập nhật (ngày 30 tháng 9 năm Tự Đức thứ 3 (1849). Địa danh ghi trên sắc phong cũng là một thông tin quan trọng xác định sự thay đổi tên làng qua các thời kỳ. Qua đó góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu tên gọi các làng cổ, thứ tự định cư các họ tộc, cung cấp những sự kiện về các nhân vật trong làng.
           Hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Trị sắc phong còn lại không nhiều và tình trạng bảo quản cũng khác nhau, có một số làng bảo quản tốt nên sắc vẫn còn nguyên vẹn, bên cạnh đó cũng có một số nơi do thiếu kinh nghiệm nên sắc bị rách nát và ẩm mục. Biết rằng sắc phong là một tài liệu quý để nghiên cứu nhiều mặt về đời sống của cư dân mỗi làng cụ thể, nhưng nếu tách ra khỏi địa phương thì ý nghĩa và giá trị sẽ không cao. Bởi vậy, nhiệm vụ bảo quản hoàn toàn phụ thuộc vào người dân ở các làng. Thiết nghĩ, người dân không nên để mất mát hay rách nát sắc phong. Ngoài ra, các cơ quan chức năng cần nắm rõ danh mục, phân loại cụ thể để tiện theo dõi và hướng dẫn về kỹ thuật bảo quản, giúp người dân cất giữ sắc phong được lâu dài.

Chú thích:

(1) Xem Nguyễn Bình - Phát hiện 2 sắc phong thời Tây Sơn tại làng An Mỹ - Tạp chí Cửa Việt 1991.

(2),(3),(4) Nội các triều Nguyễn - Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ. Bản dịch Hội sử học - Tập 4, NXB Thuận Hoá. Huế 2005. Tr 345, 346, 355.

              Cái Thị Vượng - Bảo tàng Quảng Trị
(Đã đăng ở Tạp chí Cửa Việt số 189, tháng 6/2010
Xem thêm…

Qua phát hiện tiền cổ ở Quảng Trị - Kinh tế ở đây đã phát triển từ rất sớm

11:16:00 CH |
Tác giả: Cái Thị Vượng_Bảo tàng Quảng Trị 
             Quảng Trị là một tỉnh Bắc Trung Bộ. Từ thời xa xưa đã là nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa. Đặc biệt thời kỳ chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào đóng đô ở Ái Tử (1558), vùng đất Quảng Trị đã thực sự được mở mang. Nền kinh tế không phải bị bó hẹp trong vùng như trước đây mà được mở rộng quan hệ giao thương với các vùng khác trong nước và ngoài nước đặc biệt là Trung Quốc thông qua cảng biển Cửa Tùng và Cửa Việt. Chính vì thế tiền Việt cổ thuộc các triều đại Phong kiến ở nước ta và tiền cổ Trung Quốc thuộc các triều đại từ thời nhà Thanh trở về trước và một số loại tiền cổ khác đều được phát hiện ở khắp mọi vùng miền trong tỉnh nhưng đa số ở những khu vực có luồng giao thương, buôn bán phát triển mạnh như: ở gần thương cảng, bến thuyền, thị tứ…           Tiền cổ được phát hiện ở Quảng Trị, chủ yếu là tiền Việt cổ được đúc bằng đồng từ Thế kỷ XV đến Thế kỷ XIX và tiền cổ bằng đồng Trung Quốc.
          Tiền Việt cổ có 15 loại: Thiệu Bình nguyên bảo Thiệu Bình thông bảo thời Lê Thái Tông (1434-1442); Quang Thuận thông bảo thời Lê Thánh Tông (1460-1497); Cảnh Hưng thông bảo thời Lê Hiển Tông (1740-1786); Thái Bình thông bảo Thái Hòa thông bảo thời chúa Nguyễn (1558-1800); Gia Long thông bảo (1802-1820), Minh Mạng thông bảo (1820-1840), Thiệu Trị thông bảo (1841-1847), Tự Đức thông bảo (1848-1883), Đồng Khánh thông bảo (1886), Thành Thái thông bảo (1889-1907), Duy Tân thông bảo (1907-1916), Khải Định thông bảo (1916-1925, Bảo Đại thông bảo (1925-1945) thời nhà Nguyễn (1801-1945).
          Tiền cổ Trung Quốc có 53 loại: Ngũ Thù thời nhà Tùy (589-618); Khai Nguyên thông bảo, Càn Nguyên Trọng Bảo thời nhà Đường: (618-907); Thiên Hán nguyên bảo, Đường Quốc thông bảo Chu Nguyên thông bảo thời nhà Lương và nhà Chu (907-960); Chính Long nguyên bảoĐại Định thông bảo thời nhà Kim (1115-1234); Tống Thông nguyên bảo, Thuần Hóa nguyên bảo, Chí Đạo nguyên bảo, Hàm Bình nguyên bảo, Cảnh Đức nguyên bảo, Tường Phù nguyên bảo, Tường Phù thông bảo, Thiên Hy thông bảo, Thiên Thánh nguyên bảo, Minh Đạo nguyên bảo, Cảnh Hựu nguyên bảo, Hoàng Tống thông bảo, Chí Hòa nguyên bảo, Chí Hòa thông bảo, Gia Hựu thông bảo, Gia Hựu nguyên bảo, Trị Bình nguyên bảo, Trị Bình thông bảo, Hy Ninh trọng bảo, Hy Ninh nguyên bảo, Nguyên Phong thông bảo, Nguyên Hựu thông bảo, Thiệu Thánh nguyên bảo, Nguyên Phù thông bảo, Thánh Tống nguyên bảo, Đại Quan thông bảo, Chính Hòa thông bảo Tuyên Hòa thông bảo thời Bắc Tống (960-1127); Kiến Viêm thông bảo, Thuần Hy nguyên bảo, Thiệu Hy nguyên bảo, Khánh nguyên thông bảo, Gia Định thông bảo, Hoàng Tống nguyên bảo, Cảnh Định nguyên bảo, Thiệu Định nguyên bảo, Đại Tống nguyên bảoHàm Thuần nguyên bảo thời Nam Tống (1127-1279); Đại Chí thông bảo, Hồng Vũ thông bảo, Vĩnh Lạc thông bảo   Vạn Lịch thông bảo thời nhà Minh(1368-1644); Khang Hy thông bảo, Ung Chính thông bảo Càn Long thông bảo thời nhà Thanh.
          Ngoài ra còn có một số loại tiền kim loại khác của các nước như Pháp, Nhật…
          Tiền cổ được phát hiện ở Quảng Trị chủ yếu từ thời Hậu Lê(1428) trở về sau, còn thiếu vắng một số đồng tiền cổ của các triều đại trước đó như: tiền Thái Bình hưng bảo thời nhà Đinh(967-981); Thiên Phúc trấn bảo thời Tiền Lê(980-1009); Thiên Thành nguyên bảo, Đại Định thông bảo, Trị Bình nguyên bảo thời nhà Lý(1010-1225); Khai Thái thông bảo, Đại Trị thông bảo thời nhà Trần(1225-1400); Thánh nguyên thông bảo thời nhà Hồ(1400-1407).
          Sự phát hiện các đồng tiền cổ ở Quảng Trị có giá trị trong việc nghiên cứu quá trình phát triển về kinh tế, văn hóa của người dân Quảng Trị từ xưa đến nay, nó minh chứng rằng: bắt đầu từ thời Hậu Lê, kinh tế ở Quảng Trị đã có sự biến đổi. Người dân Quảng Trị lúc bấy giờ không phải chỉ biết làm nghề nông, nuôi tằm dệt lụa, với kinh tế tự cung, tự cấp mà đã vượt ra bên ngoài. Quan hệ hàng hóa-tiền tệ, sự giao lưu trao đổi, mua bán hàng hóa giữa người Đàng trong và người Đàng ngoài, giữa người dân Quảng Trị với thương nhân nước ngoài, đặc biệt là các thương nhân Trung Quốc qua các triều đại đã bắt đầu phát triển.

Cái Thị Vượng-Bảo tàng Quảng Trị
(Đã đăng ở Thời báo Ngân hàng)

Xem thêm…