Tác giả: Cái Thị Vượng_Bảo tàng Quảng Trị
 |
| Sông Thạch Hãn(Đoạn Cầu An Mô-Triệu Long) |
Từ xa xưa Quảng Trị là một mảnh đất luôn gắn liền với quá trình phân chia, cát cứ giữa các triều đại phong kiến, đây cũng là vùng đất có ý nghĩa quan trọng trong việc mở mang đất đai về phía Nam của các quốc gia Đại Việt. Cùng với việc thiết lập các làng xã trên vùng đất mới là các công trình văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng ra đời. Đây là những yếu tố cấu thành văn hoá của từng làng, bản, từng cộng đồng tộc người, trong đó có văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể. Cũng chính tại mảnh đất này, trong quá trình đấu tranh và xây dựng quê hương đã hình thành nên những phong cách, tạo nên nhiều loại hình nghệ thuật, sản sinh ra nhiều tài năng, hội tụ nhiều danh nhân để làm nên một Quảng Trị vừa mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, vừa có sắc thái riêng biệt của vùng đất kiên cường.
Nghiên cứu văn hoá các dân tộc ở đôi bờ sông Thạch Hãn là là đề cập đến những vấn đề rộng lớn liên quan đến mọi mặt của đời sống con người, bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của hai cộng đồng tộc người Việt và Bru - Vân kiều trải suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm. Bằng cách chuyển tải liên tục trên sự kế thừa các yếu tố nhân bản của mình với tất cả sự năng động, sáng tạo để phù hợp với môi trường, hoàn cảnh, điều kiện tự nhiên…kết hợp với sự hội nhập, giao lưu, giao thoa có chọn lọc…với các tộc người khác; để hình thành nên một nền văn hoá riêng biệt vừa đa dạng về loại hình, vừa phong phú về chủng loại, vừa giàu có về nội dung và tiềm ẩn trong lòng nó một diễn trình văn hoá, lịch sử mang đậm đà bản sắc của vùng đất Quảng Trị.
VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT.
A. VĂN HÓA VẬT CHẤT.
Văn hóa vật chất là cơ sở đầu tiên của đời sống con người, đó là những biểu hiện về điều kiện sinh sống và điều kiện phát triển xã hội của một dân tộc, của mỗi cộng đồng người trong một vùng vào một thời kỳ nhất định. Trước khi thiết lập và sáng tạo ra các quan hệ xã hội và văn hóa tinh thần, con người cần giải quyết các nhu cầu về vật chất, đó chính là các công trình kiến trúc văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống như: nhà ở, đình, chùa, nhà thờ Thiên chúa, đền miếu, nhà thờ họ tộc. Các công trình kiến trúc là những tác phẫm nghệ thuật được tổ chức, xây dựng dựa trên những thành tựu của một nền khoa học kỹ thuật và kinh tế, xã hội nhằm mục đích phục vụ đời sống con người. Kiến trúc biểu hiện những đặc trưng riêng của từng dân tộc, từng vùng, miền và hơn thế, nó còn biểu hiện tính cộng đồng văn hoá mà bản thân dân tộc đó, địa phương đó chịu ảnh hưởng trong quá trình thiên di hoặc cộng cư lâu dài với các dân tộc khác trên cùng một địa bàn cư trú.
Người Việt sinh sống ở hầu khắp đôi bờ sông Thạch Hãn từ thượng nguồn về đến hạ lưu, từ vùng đồng bằng ven biển đến đồi trung du, nhưng tập trung cao nhất vẫn là vùng nông thôn và các thị trấn. Qua thực tế, trong 19 xã phường, thị trấn với hơn 100 làng bản mà chúng tôi đã có dịp điều tra, nghiên cứu, thì có đến 95 làng người Việt. Người Việt là dân tộc chủ thể có trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội khá phát triển để lại những dấu ấn văn hóa tiêu biểu ở Thạch Hãn giang.
Nhà ở, đình, chùa, nhà thờ Thiên chúa, đền miếu, nhà thờ họ tộc…của người Việt sống dọc đôi bờ sông Thạch Hãn là các sản phẩm văn hoá được tích hợp trong quá trình hình thành và phát triển trên vùng đất này. Nó vừa là sự kế thừa và phát huy những yếu tố truyền thống được người Việt mang theo từ đất Bắc cùng với sự tiếp nhận, chọn lọc, sáng tạo những yếu tố mới trong điều kiện sinh sống cộng cư lâu dài với người Chăm trên vùng đất bản địa của họ; vừa chịu ảnh hưởng rất lớn lao trước các tác động của tự nhiên, môi trường của xứ sở từng được mệnh danh là “Ô Châu ác địa”; vừa mang những nét chung cơ bản của kiến trúc dân gian toàn vùng Trị - Thiên. Qua bao biến cố thăng trầm của tự nhiên, lịch sử, xã hội các công trình này tuy không giữ được những giá trị nguyên gốc ban đầu, nhưng ít nhiều vẫn bảo lưu được những giá trị về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Chính nơi đây đã ghi lại những dấu ấn về tư duy, nhận thức, trình độ phát triển của con người qua các thời kỳ lịch sử.
I. TỔ CHỨC LÀNG XÓM.
“Có an cư mới lạc nghiệp”, điều đó chứng tỏ ở là một trong những nhu cầu quan trọng nhất trong đời sống của một con người từ xưa cho đến nay. Cha ông ta đã để lại nhiều kinh nghiệm trong việc chọn đất lập làng và xây dựng nhà cửa. Vị trí lập làng phải có địa thế đẹp, với địa hình có cao, có thấp, gần sông ngòi, chọn hướng để xây dựng nhà cửa tạo dựng sự hài hoà với thiên nhiên. Địa thế ấy phải còn phải tiện cho việc làm ăn để có đời sống kinh tế văn hoá phong phú. Với phương châm: “Nhất cận thị, nhị cận lân, tam cận giang, tứ cận lộ, ngũ cận điền” tức là làng xóm phải gần chợ, gần bến đò, gần sông, gần đường cái, gần ruộng đồng sản xuất.
Từ kinh nghiệm quý đó, các làng người Việt ở đôi bờ sông Thạch Hãn đa số sống tập trung và trải dài ven sông, các dải đất cao và chạy dài trên các vùng đồng bằng, các triền đồi bát úp; bên cạnh đó còn có một số làng sống ở ốc đảo giữa đồng bằng và một ít làng sống ven biển. Phía thượng nguồn sông Thạch Hãn tại địa bàn các xã Triệu Nguyên, Ba Lòng, Hải Phúc và một phần đất đai phía trên của 2 xã Nhan Biều, Hải Lệ, là những khu đất mà nguyên xưa là vùng tụ cư, sinh sống của người Bru - Vân kiều. Xuôi theo 2 bên bờ sông Thạch Hãn từ Nhan Biều, Hải Lệ về đến làng Xóm Vụng (nay là khu phố 6 - thị trấn Cửa Việt) và làng Phú Hội (xã Triệu An), đây là những vùng đất ngày xưa người Chăm sinh sống.
Khác với các làng ở Miền bắc, làng người Việt ở đôi bờ sông Thạch Hãn không bị đóng kín bởi không gian xung quanh lũy tre làng mà có xu hướng mở hơn. Các làng dù to, nhỏ khác nhau đều có phân định rõ ràng. Ranh giới giữa các làng có thể là sông, hói, bờ đập bằng cách dựa vào tự nhiên hoặc chính con người tạo ra, cũng có thể bằng mốc nhân tạo như đá, gỗ. Quy hoạch làng xóm được tổ chức một cách khá quy cũ, một làng thường được chia làm nhiều xóm, tên các xóm thường được dựa vào vị trí tọa lạc của các công trình tín ngưỡng, tôn giáo, hay nơi có các trung tâm qua lại, mua bán, trao đổi, sông, hói…dẫn liệu như:
Làng Đâu Kênh - xã Triệu Long có 9 xóm: xóm Triêu, xóm Đùng, xóm Hói, xóm Kiệt, xóm Cồn, xóm Bồi, xóm Bàu, Xóm Rào Thượng, xóm Rào Hạ.
Làng Gia Độ - xã Triệu Độ có 5 xóm: xóm Chùa, xóm Giữa, xóm Soi, xóm Xưởng, xóm Đò.
Làng Hà Tây - xã Triệu An có 6 xóm: xóm Mộ, xóm Đồng, xóm Làng, xóm Chợ, xóm Chùa, xóm Tuần.
Làng Lập Thạch có 7 xóm: xóm Đình, xóm Dài, Xóm Cây Đa, xóm Chợ, xóm Soi, xóm Rú, xóm Giếng…
Nhiều làng lại được chia thành các phe, giáp như: làng Bích La thượng - xã Triệu Long là một trong ngũ giáp của Bích La đại xã. Làng Dương Lệ - xã Triệu Thuận có 2 giáp: Dương Lệ Đông và Dương Lệ Văn. Làng Phúc Lộc - xã Triệu Thuận có Giáp Đông và Giáp Tây...
II. NHÀ Ở DÂN GIAN.
II. 1. NHÀ Ở DÂN GIAN-QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN.
Nhà ở dân gian là không gian cư trú chính của con người - tổ ấm gắn bó nhiều mặt của các thành viên trong quan hệ gia đình, thân tộc để từ đó mở ra quan hệ với xóm giềng, làng nước. Nơi sinh ra, nuôi dưỡng và hình thành đầu tiên nhân cách con người; nơi lưu giữ và trao truyền những giá trị văn hoá, tín ngưỡng của thế hệ này cho thế hệ khác; nơi tổ chức những hoạt động kinh tế và các hoạt động sống của người dân.
Nhà ở dân gian là những công trình kiến trúc cổ truyền với bộ khung chịu lực được làm từ tre hay gỗ, nó không chỉ là nơi trú ẩn, che mưa nắng, gió bão mà còn là sự thể hiện thế ứng xử linh hoạt giữa con người với môi trường tự nhiên quanh khu vực cư trú. Sự lựa chọn kiểu dáng, kết cấu, sử dụng vật liệu cũng như bố trí, sắp xếp nội, ngoại thất các công trình kiến trúc sao cho phù hợp là sự biểu hiện một cách chân thực nhận thức, tư duy của chủ nhân về văn hoá ở; đồng thời nó còn phản ánh rõ nét quan hệ kinh tế, xã hội, quan hệ giai cấp, thói quen trong sinh hoạt, phong tục tập quán, tín ngưỡng của mỗi gia đình.
Nhìn chung từ xưa đến nay, nhà ở của người Việt dọc đôi bờ sông Thạch Hãn có mặt đầy đủ các loại hình kiến trúc dân gian với 3 kiểu thức chính: nhà Rội, nhà Rường và nhà Xông (nhà Bằng đầu); ngày nay ở một số gia đình khá giả còn có nhà mái bằng nhiều tầng. Nhà Rội và nhà Rường là hai kiểu thức truyền thống cơ bản, có quá trình lịch sử hình thành sớm và phổ biến trong các làng xã nhiều thời kỳ trước đây. Nhà Xông là kiểu thức hình thành muộn hiện còn được người dân sử dụng và tiếp tục được xây dựng ở hầu khắp các làng. Bên cạnh đó, tại các khu vực đô thị hóa ngày càng xuất hiện nhiều nhà mái bằng cao tầng.
Trước khi bị chiến tranh tàn phá (từ những thập niên 50 - 60 của thế kỷ XX), nhà ở của cư dân dọc đôi bờ sông Thạch Hãn có các loại chủ yếu: Nhà của người bình dân nghèo thì dựng theo lối nhà Rội hoặc nhà nửa Rường, nửa Rội; nhà của những người trung nông thì dựng theo lối nhà Rường với quy mô một gian 2 chái; nhà của những phú nông giàu có thì dựng theo lối nhà Rường 3 gian 2 chái hoặc kiểu nhà gồm hai nếp, phía trước nhà chính có thêm nhà “vỏ cua”. Qua thời gian, với sự tàn phá của thiên nhiên cùng với sự hủy diệt của 2 cuộc chiến tranh ác liệt, các ngôi nhà cổ truyền hầu hết đều bị tàn phá, hư hỏng. Ngày nay, khi nền khoa học kỷ thuật phát triển, vật liệu xây dựng ngày càng phong phú thì những ngôi nhà cổ xưa càng nhanh chóng bị thay thế và mất dần trong đời sống của người dân. Hiện tại, các ngôi nhà Rội với kết cấu tre, nứa, mái lợp tranh, phên tre trát đất; kiểu nhà Rường 3 gian, hai chái và kiểu nhà hai nếp có “vỏ cua” đã không còn nữa. Nhà Rường chỉ còn rất ít tại một số làng xuôi theo hạ nguồn sông Thạch Hãn. Ngôi nhà có vẻ nguyên thuỷ nhất là nhà ông Hoàng Đình Kiệt tại làng Thanh Liêm - xã Triệu Độ, với kết cấu của một ngôi nhà rường 1gian 2 chái kép, mái lợp ngói liệt còn tương đối nguyên vẹn. Bên cạnh đó còn có nhà của ông: Hoàng Đức Trí, Hoàng Đình Hảo, Nguyễn Danh, Nguyễn Mãnh, Hoàng Hiền (làng Thanh Liêm - xã Triệu Độ), nhà ông Nguyễn Chiến, nhà bà Hồ Thị Trực ở làng Vĩnh Phước, nhà ông Trần Bá Viết ở Trung Chỉ… là những ngôi nhà rường ít nhiều đã có sửa chữa, thay đổi hoặc còn nguyên vẹn nhưng có niên đại khá muộn khoảng những năm đầu thế kỷ XX trở về sau.
Trong lịch sử kiến trúc nhà ở dân gian Việt Nam thì kiểu nhà Rội được coi là kiểu sơ khai, là tiền đề cho các kiểu kiến trúc. Nhưng từ nhà Rội đến nhà Rường là cả một quá trình cải biến, thay đổi các yếu tố kiến trúc cổ sơ để phù hợp với điều kiện môi trường, hoàn cảnh kinh tế, xã hội trên vùng đất đến lập nghiệp; đồng thời tiếp thu các yếu tố kiến trúc nhà ở của cư dân tiền trú Chămpa để sáng tạo nên những sản phẩm văn hoá mới của các nhóm cư dân Việt ra đi từ đất Bắc. Các bước phát triển từ nhà Rội đến nhà Rường có thể hình dung theo chiều hướng sau: Đầu tiên là các kiểu thức nhà Rội rồi đến các kiểu nhà nửa Rường, nửa Rội (thượng Rường hạ Rội hoặc trước Rội sau Rường) và đỉnh cao là kiểu thức nhà Rường - một loại hình kiến trúc nhà ở được coi là "đặc thù của vùng Trị - Thiên". Đến những thế kỷ XVII - XVIII, bên trong các làng xã dọc hai bờ sông Thạch Hãn, đã xuất hiện những ngôi nhà được kiến trúc theo lối nhà Rường. Trên thực tế, kiểu thức nhà Rường và nhà Rội cùng đồng hành với nhau, gắn bó mật thiết với nhau trong một không gian kiến trúc nhà ở của từng gia đình người Việt. Dù là nhà Rội hay Rường thì chúng đều có chung một mô thức là bộ khung chịu lực bằng tre hay gỗ được kết cấu thành một hoặc nhiều gian và hai chái. Trong từng khuôn viên của nhiều gia đình, kiểu nhà Rường thường được sử dụng làm ngôi nhà chính, còn nhà Rội thường được dùng làm ngôi nhà phụ như nhà bếp, chuồng trại chăn nuôi.
Sau một thời gian tồn tại, nhà Rội do nhiều nhược điểm về không gian bị hạn chế, kỹ thuật, mỹ thuật ở trình độ thấp nên kém bền vững và chưa đẹp mắt. Vì thế, những kiểu nhà “nửa Rường, nửa Rội”, "trước Rội, sau Rường”, hoặc "thượng Rường, hạ Rội” mới đã ra đời. Phổ biến nhất cho loại nhà kiểu này là nhà Trếng đà/ Rường đà và kiểu nhà Rội khung gỗ. Các kiểu nhà này chính là gạch nối trong sự chuyển tiếp từ nhà Rội sang nhà Rường.
Nhà Rường là một kiểu kiến trúc với một bộ khung chịu lực hoàn toàn được làm bằng gỗ với kỷ thuật cưa, đục, xẻ ngoàm, khớp mộng để tạo nên một kết cấu liên hoàn, vững chắc. Nhà Rường có mặt bằng cấu trúc hình chữ nhật hoặc hình vuông. Nhà có mặt bằng hình chữ nhật là những ngôi nhà 3 gian và 2 chái, nên còn gọi là "nhà ba căn”. Nhà có mặt bằng hình vuông là những ngôi nhà 1 gian hai chái, còn được gọi "nhà bánh ít”. Kiểu "nhà vuông” là loại nhà thông dụng, phổ biến; còn loại "nhà ba căn” chỉ có ở những gia đình quan lại, địa chủ giàu có. Ngoài ra, còn có một loại nhà nữa gọi là "nhà vỏ cua”, đây là một loại nhà gồm 2 nếp được ghép song ngang theo lối "chữ nhị”, nối với nhau bằng một máng xối thuần túy. Loại nhà này không phổ biến vì nó tốn khá nhiều nguyên vật liệu và công sức cho nên ngày xưa chỉ những gia đình giàu có, quan lại trong triều mới làm được.
Từ thế kỷ XVIII trở về trước, đa phần nhà ở của người dân dọc theo đôi bờ sông Thạch Hãn mái đều lợp tranh, vách là phên tre trát đất hoặc ván thưng; cửa sổ, cửa chính thường chỉ là bộ khung bằng tre nẹp tranh, lúc mở phải chống lên vì thế trông lụp xụp, tối tăm, ẩm thấp; nhà lợp ngói không nhiều. Mãi đến thế kỷ XIX, khi loại vật liệu xây dựng vôi vữa, xi măng được thông dụng thì việc sử dụng tường gạch che chắn hoặc chịu lực đã làm cho nhà ở ngày càng được xây cất vững chãi, khang trang hơn. Những thập niên đầu của thế kỷ XX, nhà ở dân gian xuất hiện một kiểu nhà mới được gọi là kiểu nhà Xông hay còn gọi là nhà Bằng đầu, đây là kiểu nhà 1 hoặc nhiều gian nhưng không có chái, xây tường gạch, mái lợp ngói hoặc tôn.
Ngày nay, do điều kiện kinh tế phát triển và chịu ảnh hưởng lớn lao của quá trình đô thị hoá nên nhà ở dân gian của cư dân dọc đôi bờ sông Thạch hãn phát triển chủ yếu theo 2 chiều hướng bê tông hoá ở vùng nông thôn và cao tầng hoá ở vùng thị xã, thị trấn. Các kiểu thức nhà ở truyền thống ngày càng vắng bóng dần để nhường chỗ cho lối kiến trúc nhà ở hiện đại.
Như vậy, nhà ở dân gian của người Việt dọc đôi bờ sông Thạch Hãn theo thời gian đã có từng bước thay đổi nhất định cả về kiến trúc, không gian cũng như nguyên vật liệu. Quá trình thay đổi này kéo dài trong nhiều thế kỷ kể từ khi người Việt từ miền Bắc đến định cư ở đây (thế kỷ XIV) cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XX mới hoàn thành. Đây là thành quả lớn lao mà ông cha ta đã đúc rút trong thực tiễn cuộc sống, nó thể hiện quá trình phát triển của lịch sử xã hội, nhận thức của con người cũng như trình độ, kỹ thuật của các nghệ nhân ở Quảng Trị ngày xưa.
II. 2. NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NHÀ Ở DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT ĐÔI BỜ THẠCH HÃN.
II. 2. 1. CẢNH QUAN MÔI TRƯỜNG, BỐ CỤC SÂN VƯỜN VÀ CÁC CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC.
Do khu vực cư trú của người dân phân bố trải dài theo dòng sông, nên nhà ở của người Việt gắn bó mật thiết với môi trường sông nước. Điều này không chỉ thuận tiện cho việc sinh hoạt như lấy nước ăn uống, tắm, giặt, đi lại bằng thuyền... mà còn có tác dụng giảm đi đáng kể cái nóng oi bức của nắng và gió Lào mùa hè.
Trong tập quán ở của người Việt Quảng Trị, một giải pháp hết sức quan trọng để ứng phó với môi trường tự nhiên là chọn hướng nhà và đất ở theo các nguyên tắc được quy định trong thuật “phong thuỷ”. Đó là cách tận dụng tối đa thế mạnh của môi trường tự nhiên để tạo ra một môi trường sinh thái nhân văn theo ý đồ của con người. Địa hình Quảng Trị do có bờ biển dài, nằm trong khu vực gió mùa vì thế trong bốn hướng chính chỉ có hướng nam hoặc đông nam là tối ưu nhất, vừa tránh được cái nóng từ phía tây, những cơn bão từ phía đông và gió lạnh thổi về từ phía bắc; vì thế khi mở hướng nhà, người dân thường chọn hướng chính nam hoặc đông nam. “Lấy vợ hiền hoà, làm nhà hướng nam”. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều làng xóm của người Việt dọc đôi bờ sông Thạch Hãn cũng không nhất quán theo một quy định chặt chẽ nào, vì còn tuỳ thuộc vào địa hình, địa vật xung quanh, vào sự có mặt của sông ngòi, của đường sá... nên các nguyên tắc của phong thuỷ được vận dụng một cách linh hoạt. Người ta chỉ kiêng nhất là quay hướng nhà về hướng bắc, đông bắc.
Bên cạnh việc chọn địa cuộc để tạo ra một không gian ở thích ứng với môi trường thiên nhiên, người Việt còn rất chú trọng đến quan hệ tình làng nghĩa xóm, láng giềng và những yếu tố để tạo ra một môi trường nhân văn hoà hợp với tính cộng cảm cộng đồng. Ngoài ra, khi xây cất nhà cửa cũng cần phải chú ý tránh những hiện tượng như: “mũi đằng” (con đường đi vào nhà đâm thẳng vào cửa chính của bàn thờ); “góc ao, đao đình” (góc ao, đao đình chiếu thẳng vào nhà); cổng ngỏ cao hơn nhà chính; mái đốc của một ngôi nhà khác mé đằng trước đâm thẳng vào cổng ngỏ, soi tới trong nhà; trước cửa ngỏ có bãi tha ma hoặc đền miếu án ngữ...Chính vì lẽ đó mà các ngôi nhà cổ, các làng cổ thường quần tụ dọc theo hai bên bờ các con sông với cảnh trí hữu tình, cảnh quan thông thoáng vừa ứng hợp với môi trường, thuận tiện trong cuộc sống vừa tạo ra được không gian nhân văn với tình làng nghĩa xóm tốt đẹp; đây là một kinh nghiệm quý báu mà ông cha ta đã đúc rút từ trong thực tiễn hàng trăm năm.
Dù là nhà giàu sang, quyền quý hay nhà bình dân thì quy hoạch khuôn viên của một gia đình bao giờ cũng có ngôi nhà chính và ngôi nhà phụ bố trí theo kiểu chữ T (tức là nhà chính nằm theo chiều ngang, nhà phụ nằm theo chiều dọc). Một số nhà bố trí theo dạng chữ L. Mặt bằng của ngôi nhà chính bao giờ cũng tôn cao hơn so với mặt bằng nhà phụ. Phía trước có khoảng sân lát gạch hay chỉ là nền đất nện chặt dùng để phơi phóng, đan lát, làm các nghề phụ và tổ chức các cuộc nhóm họp đông người vào những dịp lễ lạt, tang ma, cưới xin... nhưng chính nó cũng là một không gian không thể thiếu trong bố cục kiến trúc nhà ở, giúp cho ngôi nhà sáng lên, nổi lên trong toàn cảnh. Chuồng trại gia súc được bố trí ở một đầu của nhà ngang hoặc được làm tách ra ở một nơi nào đó trong khu vườn và bao giờ cũng có thêm đụn rơm để vừa dự trữ thức ăn cho trâu bò vào mùa rét vừa dự trữ chất đốt thay củi. Ngày trước, các nhóm cư dân ven sông Thạch Hãn thường ăn uống và sinh hoạt bằng nước sông; cũng có những làng xóm sử dụng nước giếng lấy từ các giếng làng, giếng xóm - đó là những giếng nước của người Chăm để lại; vì thế, mô hình giếng nước trong vườn nhà không phải là phổ biến.
Trước mặt ngôi nhà, phía ngoài khoảng sân, bao giờ cũng có một đến hai cái am nhỏ để thờ thổ thần, thờ những vong linh, cô hồn không ai thờ cúng hoặc những vong vị sút sảo trong gia đình. Đây là điều khác biệt so với khuôn viên của các gia đình miền Bắc. Ngôi am có khi được xây bằng gạch, xi măng lại có khi chỉ làm bằng gỗ, tre nhưng theo một kiểu thức chung là có một cột trụ, trên đó có một tran thờ - nơi đó đặt bát hương và những đồ thờ liên quan khác để phục vụ cho việc cúng lễ, hương khói trong các ngày sóc, vọng, lễ, tết hay những lần gia đình có dịp cúng tế, giỗ chạp...
Trong khu vườn của mỗi gia đình ở vùng đồng bằng thì trồng vài luống rau xanh, hàng mía, hàng chuối, hàng cau... Những nhà đất rộng còn có vườn cây ăn quả như cam, quýt, bưởi, ổi, mít... ở vùng có địa hình là vùng đồi đất đỏ bazan, vườn thường được trồng các loại cây lưu niên như mít, xoài, ổi, cam, chanh... một mặt là phục vụ cho nhu cầu kinh tế; mặt khác, tạo cảnh quan bóng mát cho vườn, nhà.
Ngăn cách giữa khuôn viên bên trong với không gian bên ngoài là các dạng hàng rào, cổng ngõ. Những gia đình giàu có cổng ngõ xây bằng trụ biểu hay cổng có mái lợp. Trước sân nhà có bình phong đắp hình cuốn thư, phía sau bình phong có bể cạn với hòn non bộ giả sơn. Những gia đình trung lưu thường được bao quanh những hàng rào bằng cây như: chè tàu, dâm bụt được cắt xén cẩn thận. Cổng ngõ, bình phong thường do các cây dây leo, thảo mộc được uốn lượn, cắt tỉa mà thành. Khuôn viên của những nhà bình dân nghèo cũng có vườn, có sân nhưng thường là hẹp. Cổng ngõ được làm sơ sài với những cọc tre cùng những liếp nè để ngăn cách với bên ngoài.
II. 2. 2. KIỂU THỨC KIẾN TRÚC VÀ TRANG TRÍ.
- Nhà Rội : Bộ khung nhà Rội nguyên bản được tạo thành bởi sự liên kết của các bộ phận gồm vài kèo, xuyên, đòn tay, rui, mè... các bộ phận này thường làm từ các nguyên liệu có sẵn như tre, nứa, ít qua công đoạn gia công và có cấu trúc tương đối đơn giản. Kiểu thức phổ biến nhất là kiểu nhà mà trong mỗi vì kèo có ba cột chôn xuống đất, cột giữa nhô cao đến tận đỉnh nóc tạo ra kiểu vì kèo chữ thập (+) chống đỡ trực tiếp nóc mái. Cấu trúc của nhà Rội thường gồm các bộ phận như các tay kèo suốt nối với nhau ở đòn nóc (đòn đôông). Hệ thống cột tre được chôn thẳng xuống đất. Trên mỗi cột của nhà rội lại có "vồ đội” đỡ đầu cột nóc. Liên kết giữa các cột là trến băng kéo dài từ cột trước qua cột giữa đến cột sau cùng. Mỗi vài kèo có 2 tay kèo suốt đôi, một cột cái, 2 cột quân, 1 trến băng (đôi hoặc đơn) đội trên mình thêm 2 cột trốn. Nếu nhà phân bố cột 5 hàng chân thì có thêm 2 cột quân và 2 tay kèo hạ đôi. Mỗi ngôi nhà được tạo thành bởi 2 vài kèo. Ở mỗi gian chái có 2 tay kèo đấm và hai tay kèo quyết đi kèm với 2 cột đấm và 2 cột quyết. Liên kết các vài kèo và các bộ phận gian chái nhờ hệ thống đòn tay đặt trên các tay kèo theo một một trình tự nhất định. Đòn tay, rui, mè (mèn) là vật trực tiếp để nâng đỡ bộ mái. Mái lợp chủ yếu bằng tranh, mỗi tấm tranh lợp mái được bện bằng các "hom” tre (6 hoặc 4 cái) có chiều dài từ 0,8 - 1,2m, bện chặt theo dạng chân rết. Các tấm tranh được lợp theo lối chồng đè lên nhau theo thứ tự từ dưới lên trên và buộc chắc chắn vào mè.
Vách nhà được dùng để chắn gió chứ không có tác dụng chịu lực. Vách nhà Rội thường là phên tre hoặc phên trát đất. Cửa sổ và cửa chính của ngôi nhà cũng chỉ là những bộ khung tre nẹp tranh, cửa cũng chính là vách tường chắn gió của ngôi nhà, lúc mở phải chống lên vì thế nó tạo cảm giác tối và ẩm thấp.
Có thể nói nhà Rội là mô thức kiến trúc cơ bản, phổ biến, một nét đặc trưng của nhà ở cổ truyền người Việt sống dọc theo đôi bờ sông Thạch Hãn. Đây là một hình thức nhà ở tận dụng tối đa những vật liệu có sẵn trong tự nhiên đồng thời thích ứng với môi trường khí hậu của vùng đất này. Tuy vậy, do độ bền chắc không lâu của nhà Rội nên khi tình hình kinh tế ngày một phát triển thì kiểu thức kiến trúc này dần dần không còn được sử dụng trong các công trình chính của nhà ở, và ngày nay hầu như không còn có mặt trong đời sống người dân.
- Nhà Rường: Nhà Rường có kết cấu hình vuông hoặc hình chữ nhật nhưng nguyên tắc là có một hoặc nhiều gian và hai chái. “Nhà Rường rất phức tạp và đa dạng chứ không như một số tác giả cho rằng đó là cách gọi chệch từ chữ "rương", vì cái gác xép trong nhà giống như cái rương (cái hòm). Thực ra nhà có gác xép (gác lững) ở các gian giữa mà người địa phương gọi là rầm thượng chỉ là một dạng của nhà Rường. Rầm thượng được tạo thành một mặt làm nơi chứa đồ đạc nhưng mặt khác là để che dấu bớt các bộ phận của một vài kèo đơn giản, không được trang trí” (1)
Bộ khung của nhà Rường là sự liên kết một cách chặt chẽ và đạt đến mức tinh xảo của một hệ thống các cấu kiện gỗ hay nói cách khác đó là sự liên kết của hệ thống các vài kèo trong một công trình kiến trúc lại với nhau. Nhìn chung một bộ khung của ngôi nhà thường phổ biến gồm các bộ phận sau: Về vài kèo thì có có các tay kèo thượng, hạ (có khi là kèo suốt), kèo cù (kèo hàng ba); nếu nhà có 7 hàng cột thì có thêm kèo hàng tư (kèo hàng tổng). Cột thì có cột hàng nhất, cột hàng nhì, cột hàng ba, có khi có cả cột hàng tư (cột hàng tổng). Toàn bộ các cột đều được đặt trên đá tảng chứ không chôn xuống đất nhằm tránh mối mọt, sụt lún. Liên kết hai cột hàng nhất (tiền và hậu) bằng cái trến/trếng. Liên kết các vài kèo giữa các gian chính bởi một đòn nóc (đòn đôông) ở phía trên cùng và bằng hai cái xuyên ở phía dưới (xuyên nối các cột hàng nhất lại với nhau). Hai gian chái có các bộ phận kèo đấm, cột đấm, kèo quyết, cột quyết. Ngoài các bộ phận chính trên, bộ khung của ngôi nhà còn có hệ thống các xà thượng, xà hạ, xà tích... đòn tay ở cả bốn phía dùng để đỡ mái. Trên hệ thống đòn tay và xà là hệ thống rui, mè dùng để lợp ngói.
Trong các kiểu nhà Rường dân gian của người Việt sống dọc theo đôi bờ sông Thạch Hãn có hai loại vài kèo phổ biến đó là: Vài chồng và Vài luôn.
Vài luôn là bộ vài kèo được hình thành do hệ thống liên kết cột từ năm đến bảy hàng chân nhưng thường là bảy (phía trước có bốn hàng, phía sau có ba hàng). Đa số các ngôi nhà đều có sáu hàng cột phía trong và một hàng cột hiên. Vài luôn gồm có các tay kèo thượng (kèo hàng nhất), kèo hạ (kèo hàng hai), phía trước có thêm kèo cù và kèo hiên. Nếu nhà không có hiên thì được thay vào đó bằng kèo hàng tổng. Những chiếc kèo làm nhiệm vụ liên kết các cột theo hàng ngang, tên gọi các kèo được gọi theo tên các cột mà nó đứng trên: đứng trên cột hàng nhất là kèo thượng (tiền và hậu), đứng trên cột hàng hai là kèo hàng hai (tiền và hậu)...
Tay kèo hàng nhất thường là tay kèo suốt kéo dài từ thượng lương, đi qua cột hàng nhất, xuống đến cột hàng hai. Ở điểm tiếp giáp hai đầu tay kèo thượng được ngoàm vào nhau do một cái khớp tạo rất khéo, cẩn thận hơn người ta còn đóng vào đó một con xỏ (con tron) giữ chặt hai đầu kèo. Phía trên giao điểm đó người ta đặt đòn đôông (đòn nóc). Khoảng giữa tay kèo hàng nhất xuyên qua đầu trên cột hàng nhất, ôm khít đầu cột và kéo dài để ăn khớp vào cột hàng ba, đoạn đuôi kèo vươn ra để đỡ đầu phía trên một tay kèo kế tiếp gọi là cầu điếu. Trong trường hợp không dùng tay kèo suốt thì tay kèo nối từ điểm chồng lên cầu điếu kèo thượng xuống đến điểm khớp vào đầu cột hàng hai gọi là kèo hạ; phần đuôi vươn ra của kèo hạ lại được đặt chồng lên trên một đầu của kèo cù (kèo hàng ba). Kèo cù có hình dạng như một con cù (hình nửa rắn, nửa rồng), hơi tròn và lượn cong lên phía trên để đỡ mái. Tay kèo này được chạm khắc khá tỉ mĩ và một đầu gối lên cầu điếu kèo hàng hai còn đầu kia ăn mộng khớp vào đầu cột hàng ba. Đoạn đuôi kèo vươn ra phía dưới chính là đầu của hình con cù. Trường hợp đối với những ngôi nhà không tạo ra tay kèo hiên thì phía trên đầu con cù được gối lên bởi một đầu của tay kèo hàng tổng (kèo hàng tư), kèo này nối từ đó xuống đến chỗ khớp mộng vào đầu cột hàng tư. Ở trên đoạn cầu điếu của các tay kèo được kê thêm một tấm gỗ vừa ăn mộng vào mặt trên của đuôi kèo vừa xuyên qua thân cột. Các tấm gỗ này được gọi là các "con bạo". Con bạo có tác dụng làm hòn kê để đỡ đòn tay phía trên các cầu điếu của các tay kèo và có tác dụng nối đuôi của kèo này với đầu của kèo kia.
Ngoài hệ thống liên kết các tay kèo trên đầu các cột, cấu trúc vì kèo này còn có cái "trến". Trến được coi như là một quá giang ở kiến trúc Bắc; nó tương tự như bộ phận câu đầu nhưng không ăn mộng vào hai đầu cột mà ở tại một vị trí thấp hơn. Trến là bộ phận được tạo dáng khá đẹp, có chiều lượn cong lên ở giữa gọi là “trến lận”, nó đóng vai trò liên kết hai cột hàng nhất (tiền và hậu) lại với nhau. Trến xuyên qua thân 2 cột này và vươn dài thêm về 2 phía. Đoạn vươn ra khỏi cột hàng nhất tiền gọi là đầu trến, được chạm trổ khéo léo để tạo thành đầu một con rồng/ cù, còn đoạn vươn ra khỏi cột hàng nhất hậu gọi là đuôi trến thường được ít chạm trổ. Đầu và đuôi trến được chốt giữ bằng một cái nêm, đây là nơi để các nghệ nhân thể hiện kỹ thuật khớp mộng khá tinh xảo trong việc lắp đặt khung gỗ nhà Rường.
Tóm lại, gọi vài luôn là để chỉ một bộ vài kèo thường được tạo nên bởi một tay kèo suốt kéo dài từ đỉnh nóc (đòn đôông) chạy băng qua đầu cột hàng nhất xuống đến đầu cột hàng nhì. Đồng thời, trong khung hình ngũ giác được tạo nên bởi trến, 2 tay kèo, 2 cột hàng nhất không có một bộ phận nào nữa. Đây là đặc điểm để phân biệt với vài chồng, bộ vài mà ngoài những bộ phận chính đã nói trên thì trong khung hình ngũ giác còn có thêm nhiều chi tiết khác như ấp quả, trụ tiêu, xà cò, con tôm.
Vài chồng (hay còn gọi là vài trùng lương, thượng lương kép) cũng tương tự như vài luôn, có cấu trúc liên kết cột từ 5 đến 7 hàng chân. Vài chồng về cơ bản có hình dáng, bố cục tương tự như vài luôn chỉ khác ở một số chi tiết kỹ thuật kèm theo đó là điểm đặt các hoạ tiết trang trí nhằm làm tôn đẹp ngôi nhà. Nếu không tính hệ thống liên kết tay kèo và bộ phận trến giống như vài luôn thì các chi tiết của bộ vài này thể hiện các đặc điểm cơ bản ở các thành phần: ấp quả, trụ tiêu, xà cò, đấu tôm và thượng lương kép. Các bộ phận này được đặt ngay chính giữa trong khung hình ngũ giác do 2 cột hàng nhất, 2 tay kèo hàng nhất và trến tạo thành. Ấp quả là bộ phận nằm ngang phía dưới đỉnh nóc (ở điểm 2 đuôi tay kèo giao nhau), hai đầu khớp mộng vào bụng dưới của 2 tay kèo, ấp quả thường thể hiện hình dáng đôi cánh chim bay, giữa chạm hình thao thiết, có khi lại được thể hiện hình một con dơi dang rộng đôi cánh. Phía trên ấp quả đội một đòn nóc phụ thứ hai chạy song song với đòn nóc chính ở bên trên điểm giao nhau của hai tay kèo; vì thế nên gọi là trùng lương hay thượng lương kép. Phía dưới ấp quả là trụ tiêu - khối gỗ tròn có hình như búp hoa chuối được đặt lên trên một cái đấu gọi là đấu tôm, trên đầu khớp mộng vào điểm giữa của ấp quả. Đấu tôm nằm ở chính giữa cật trến, có hình số 3 nằm ngữa được trang trí những vân xoắn to có dáng gợi nhớ con tôm biển. Chỗ lượn cong lên đội trụ tiêu còn hai điểm vòng xuống áp vào trến. Tất cả các bộ phận này tạo thành hình dáng giống như người đứng dang hai tay để đỡ bụng dưới của 2 tay kèo hàng nhất. Về thực chất, lối liên kết này lặp lại lối liên kết của một bộ vài kèo được gọi là “kẻ chuyền” ở kiến trúc Bắc.
Vài chồng và vài luôn là hai kiểu vài tương đối phổ biến trong các kiến trúc nhà ở của người dân dọc đôi bờ sông Thạch Hãn. Vài chồng chẳng qua chỉ là sự biến dạng của vài luôn cho phù hợp với công trình. Tuy vậy, nếu vài luôn chỉ thấy xuất hiện chủ yếu trong nhà ở dân gian thì vài chồng lại thường có mặt hầu khắp trong các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng (đình, chùa, miếu vũ). Trong nhà ở, vài chồng chỉ được sử dụng trong các công trình phụ như hành lang, nhà dưới nhưng nhiều khi kết hợp với vài luôn để tạo ra một bộ khung ghép. Hiện tượng này thường gặp ở các kiến trúc nhà ở theo kiểu có thêm nhà “vỏ cua” phía trước.
Ngoài các bộ vài chính, ở về 2 phía đầu hồi còn có thêm hai gian chái. Gian chái được cấu thành do các tay kèo quyết, kèo đấm và cột đấm, cột quyết. Một gian chái được cấu trúc theo lối thông thường gồm có 2 kèo đấm, 2 kèo quyết nối từ 2 đầu cột hàng nhất tiền và hậu kéo xuống khớp mộng vào đầu hai cột đấm (ở giữa) và hai cột quyết (ở hai góc). Nơi các tay kèo đấm, quyết giao nhau với cột hàng nhất gọi là “xớ hàm ếch”, ở dưới xớ hàm ếch có khi được gắn thêm “con bọ” áp vào cột để đỡ các đầu bụng tay kèo.
Trong một công trình kiến trúc, bộ khung chịu lực đặt trên các cột có kích thước vừa, chu vi trung bình khoảng từ 30cm - 40cm, bào trơn, thường được kê trên các hòn đá tảng. Các cột của vài kèo trong một ngôi nhà đều được tạo theo lối "thượng thu hạ thách”. Nối các cột là hệ thống xuyên, xà thượng, hạ... tạo mối liên kết vững chắc cho kết cấu khung gỗ trong kiến trúc dân gian Quảng Trị.
Xuyên là bộ phận nối các cột hàng nhất tiền, hậu của các vài kèo lại với nhau chạy xuyên qua thân cột. Ở kiến trúc có rầm thượng thì xuyên được đặt trên trến; ở kiến trúc không có rầm thượng thì trến được đặt trên xuyên.
Xà là những bộ phận liên kết cơ bản của các vì kèo với các đầu cột. Phía trên nóc là xà nóc (hay còn gọi là đòn tay đôông, thượng lương), tiếp xuống phía dưới là xà thượng (đặt trên đầu cột hàng nhất); xà hạ (đặt trên đầu cột hàng hai); xà cù (đặt trên đầu cột hàng ba).
Cùng với hệ thống xà là hệ thống đòn tay đặt trên các tay kèo theo một trình tự nhất định và theo một quy tắc chặt chẽ. Đặt trên hệ thống xà và đòn tay là hệ thống rui, mè của bộ mái.
Bộ mái của nhà Rường có khi lợp bằng ngói liệt, cũng có khi lợp bằng ngói móc. Kỹ thuật lợp ngói móc khá đơn giản và thường là của những gia đình bình dân, còn những ngôi nhà lợp bằng ngói liệt thì tốn kém, phức tạp và thường là thuộc những gia đình quyền quý, khá giả.
Hệ thống cửa của một ngôi nhà gồm các cửa chính và cửa sổ. Hệ thống cửa chính được làm theo kiểu “thượng song hạ bản” (trên là các thanh song vuông, dưới là ván bưng) mà người dân quen gọi là cửa "bản khoa”. Các song cửa cũng như ván bưng tuy không trang trí hoa văn nhưng được chạm khắc tỉ mĩ bằng các đường xoi chỉ rất tinh xảo. Hệ thống cửa chính được đặt trên bộ phận ngạch (nghẹc) nằm cách khỏi mặt bằng một đoạn, nối các chân cột lại với nhau. Trên mỗi ngạch đều có hệ thống các bộ phận then cài cho từng cặp cửa. Ưu điểm của cửa bản khoa là nhờ các hệ thống song cửa mà khi công trình đóng kín thì nội thất vẫn đảm bảo ánh sáng và khi tháo rời sẽ tạo sự thông thoáng cho ngôi nhà.
Kiến trúc nhà Rường là một kết cấu khung gỗ chịu lực được liên kết chặt chẽ bằng hệ thống các vài kèo và bằng sự ghép nối các cấu kiện trong từng vài kèo lại với nhau theo một sự sắp xếp có trật tự và đạt đến trình độ kỹ thuật tinh xảo. Các bộ phận trong các hệ thống vài kèo cũng như hệ thống gian chái, hệ thống đòn tay được liên kết với nhau bằng phương pháp chủ yếu là xẻ đầu cột, đục thân cột, khoét để khớp mộng và gắn chốt có thể tre hoặc gỗ. Toàn bộ các cấu kiện chính nối với nhau hoàn toàn không nhờ vào một thứ nguyên liệu sắt, thép nào. Các cấu kiện được tạo ra theo nguyên tắc rất lẻ tẻ, tách riêng nhằm thuận lợi cho việc di chuyển và tháo lắp, nhưng khi được ráp nối vào bộ khung thì tạo thành những liên kết hoàn chỉnh, thống nhất. Nhờ vậy, khi lắp ráp, tháo dỡ để dịch chuyển vị trí công trình từ nơi này đến nơi khác hoặc thay thế một thành phần nào đó trong bộ khung cũng rất dễ dàng và thuận lợi.
Trong công trình kiến trúc nhà ở dân gian, trang trí chạm khắc giữ một vai trò quan trọng. Các mô típ trang trí trên các cấu kiện gỗ làm đẹp, duyên dáng thêm nội thất kiến trúc, tạo nên sự tinh tế, trang nhã. Nếu như ở phía ngoài, người ta tìm mọi cách để tạo ra không gian gắn chặt giữa thiên nhiên với kiến trúc bằng cách tìm kiếm, cải tạo, bố trí những gì có thể để làm tăng thêm cái đẹp hài hòa, gần gũi thì bên trong công trình họ thường tận dụng nhiều vị trí và các điểm trống của ngôi nhà để tạo ra không gian mỹ cảm bằng cách chạm trổ ở những phần gỗ một cách tinh vi và đẹp mắt. Trên toàn bộ khung gỗ chịu lực, ngoài hàng cột tròn được bào nhẵn, duyên dáng thì mỗi bộ phận tay kèo, xà dọc, xà ngang... mỗi nơi có một cách thức trang trí riêng. Hệ thống các đòn tay, các xà ở mặt tiền, nhất là những xà và đòn tay nằm trên kèo cù được chạm trổ mặt dưới bụng nối dài theo từng đoạn cách nhau đều đặn. Trên các kèo thượng, hạ, kèo cù, bộ phận trến không chỉ có hình dáng đẹp do được bào nhẵn, các cạnh vuông, sắc, uốn cong duyên dáng mà còn được khắc nổi những đường gờ tinh xảo. Đặc biệt, tay kèo cù bao giờ cũng được tạo dáng theo hình một con rồng biến thể gọi là con cù với dáng lượn mềm mại và những mô típ chạm khắc tỷ mẫn. ở các đầu trếng, các đuôi kèo (cầu điếu) của các tay kèo thượng, hạ, những con bạo (vai đỡ đòn tay trên đuôi kèo hàng hai, hàng ba, kèo cù giữ vai trò như những mê cốn trong kiến trúc Bắc) nằm trên cầu điếu là những nơi thể hiện tập trung nhất và tuyệt vời nhất trình độ chạm trổ của những nghệ nhân xây dựng nhà Rường. Bên cạnh các mảng trang trí ở các cấu kiện trong bộ khung gỗ chịu lực, các mô típ chạm gỗ nhà Rường dân gian còn tập trung thể hiện ở liên ba, thành vọng (diềm cột), đố bảng... Ngoài ra, các bức hoành phi, đối, liễn... cũng là những trang trí làm cho ngôi nhà đẹp thêm.
Các mảng chạm khắc trang trí trên các cấu kiện thuộc bộ khung gỗ chịu lực thì thường áp dụng kỹ thuật chạm nổi kết hợp với tạo dáng cho từng bộ phận. Đầu trếng chạm cách điệu hình đầu rồng. Đầu kèo cù chạm hình đầu rồng biến thể, đuôi kèo hình đao mác. Dưới bụng các cầu điếu chạm tam sơn - biểu tượng tam tài (thiên, địa, nhân); hai bên sườn của cầu điếu chạm hình ảnh mây mác (đao mác) với những hình cuộn nối tiếp theo dạng dải mây hồi cố, ở giữa đột ngột nổi lên những mũi mác đâm thẳng lên. Các con bạo được trang trí những mảng công phu với nhiều mô típ như bát bửu, các bài thơ chữ Hán, dây leo, hoa lá... Trên các trến băng của bộ phận khoá rương ở gian chái thường chạm hình hổ phù, cuốn thư... Dưới bụng các xà thường chạm các hoạ tiết bát bửu, dây leo, các loại quả lựu, đào kết hợp với các đường diềm hồi văn, kỷ hà... Các thành vọng thường trang trí hình dơi ngậm kim tiền, dơi ngậm chữ thọ, chữ vạn. Tại xà cò, ấp quả, trụ tiêu đều trang trí các hình vân xoắn, ấp quả còn được tạo tác hình đôi cánh chim phượng hoàng đang dang rộng, đỡ cặp kèo thượng làm giảm bớt đi sự nặng nề, thô cứng tạo cảm giác thanh thoát, nhẹ nhàng cho công trình. Hệ thống liên ba thượng, hạ thường trang trí ô học hình vuông hay chữ nhật, bên trong mỗi ô có khi gắn các con tiện hoặc các đường dây lá, hoa kết hợp với những hình kỷ hà, mắt lưới hoặc các mô típ rồng, phụng biến thể từ hoa lá với lối chạm lọng (chạm thủng); có khi chạm bong với các hoạ tiết thuộc bộ “bát bửu” (pho sách, cuốn thư, lẳng hoa, bầu rượu, đàn tỳ bà, cái quạt, phất trần, gậy như ý), bộ “tứ quý” (mai, sen, cúc, trúc), “tứ linh” (long, ly, quy, phụng), “tứ thời” (mai, sen, cúc, tùng), các bài thơ chữ Hán... Nhiều gia đình giàu có còn sử dụng nghệ thuật khảm cẩn, khảm trai lên các bức liên ba làm cho ngôi nhà trong sang trọng, quý phái.
II. 2. 3. MẶT BẰNG SỬ DỤNG VÀ TẬP QUÁN Ở (cách ở).
Đối với người Việt sống dọc đôi bờ sông Thạch Hãn nói riêng và Quảng Trị nói chung, trong không gian cư trú của một gia đình bao giờ cũng có ít nhất là 2 ngôi nhà: chính và phụ. Ngoài ra còn có các công trình khác như chuồng trại gia súc, cổng ngõ...
Ngôi nhà chính dù là nhà bình dân hay nhà của người giàu có, dù là nhà Rội hay nhà Rường thì đây đều là không gian được dùng vào những việc quan trọng như thờ phụng, tiếp khách, sinh hoạt, ngủ và cất chứa tài sản. Cách bố trí không gian bên trong nhà dù ba, năm hay bảy gian thì dường như đều có chung một sơ đồ là bố trí theo chiều dọc. Tức là không gian ngôi nhà được phân thành 3 lớp: lớp trong cùng là không gian tỉnh (thờ cúng, ngủ), lớp giữa là không gian vừa tỉnh, vừa động (tiếp khách, nghỉ ngơi, nhóm họp), lớp ngoài cùng là không gian động (đi lại).
Nhà một gian hai chái thì phần trong cùng của gian giữa được dành làm nơi thờ cúng, bên trong đặt ban thờ thần linh, tổ tiên, ông bà và những người đã khuất, được gián cách với bên ngoài bởi một rèm sáo tre (hoặc vải). Hai gian chái hai bên dành làm phòng ngủ với quy định: phòng phía trên gọi là tây phòng dành cho đàn ông, phòng phía dưới gọi là đông phòng dành cho phụ nữ. Ngăn cách giữa các buồng ngủ với bên ngoài bằng các vách gỗ gọi là các đố bảng và thông với bên ngoài bằng các cửa buồng. Ở phía ngoài bàn thờ của gian giữa đặt một bộ phản gỗ thường gọi là bộ ngựa hoặc một bộ bàn ghế dành để tiếp khách. Đây là nơi chỉ dành cho khách hoặc sinh hoạt của đàn ông. Đối với những gia đình khá giả thì ở gian giữa còn gắn các bức hoành phi sơn son thếp vàng, hai bên cột gắn các đôi câu đối viết bằng chữ Hán nhằm tôn thêm vẻ uy nghiêm trang trọng cho gian thờ. Đây là trung tâm của nội thất, chỗ trang trọng nhất của ngôi nhà. Không gian bên ngoài của gian chái phía tây thường đặt một sập, gụ, tủ chứa đồ đạc hoặc kê thêm một bộ phản gỗ (giường hay chõng tre) dành cho đàn ông. Không gian bên ngoài của gian chái phía đông thường để không, nhằm tiện cho việc đi lại với nhà phụ.
Nhà ba gian hai chái thì ngoài gian thờ - tiếp khách, hai gian hai bên đặt thêm bộ tràng kỷ, sập gụ hoặc kê giường, phản làm nơi nghỉ ngơi, sinh hoạt của khách hay các thành viên trong gia đình. Tây phòng và đông phòng vẫn dành làm buồng ngủ.
Nhà phụ (nhà bếp, nhà lều) là một ngôi nhà tồn tại bên cạnh nhà chính, nằm dọc theo gian chái của ngôi nhà chính. Quy mô, cấu trúc nhà phụ thường nhỏ hơn nhà chính và nguyên vật liệu được sử dụng để xây dựng cũng thường đơn giản ít cầu kỳ. Trong không gian của ngôi nhà phụ, phần chái ở phía trong cùng là chuồng trại gia súc, gia cầm, kế đến là gian bếp. Phía trên bếp có đặt một bàn thờ Táo quân, phía dưới có một khoảng không gian vừa phải đủ đặt chạn bát, đĩa, soong, nồi, gạo, mắm, muối... và cũng là nơi người phụ nữ thực hiện các thao tác nội trợ, chế biến thức ăn. Phần còn lại của các gian phía ngoài là không gian dành cho các hoạt động của phụ nữ liên quan đến công việc nội trợ (như: xay, giã gạo, thái rau...), có khi được tạo thành một buồng ngủ dành cho người mẹ (hoặc nàng dâu) khi có con mọn hoặc dùng để đặt lẫm lúa...
Ngoài ra, ở phía đầu hồi ngôi nhà chính hoặc xung quanh ngôi nhà phụ còn có thêm phần mái đua ra gọi là dại để dùng làm nơi chứa các các dụng cụ sản xuất, những đồ đạc lặt vặt khác hoặc dự trữ củi đốt.
Tuy nhiên, cũng cần nói thêm là cách bố trí mặt bằng như vừa nêu trên chỉ là mô thức chung và khá phổ biến, còn trên thực tế tùy thuộc vào số người trong gia đình mà mỗi nhà đều có một cách bố trí không gian mặt bằng riêng sao cho phù hợp.
Nhìn chung, cách bố trí không gian của nhà ở dân gian người Việt Quảng Trị không cầu kỳ, phức tạp; đảm bảo được sự hợp lý, thoải mái cho con người đồng thời phát huy được nét đẹp truyền thống trong văn hóa ứng xử với tổ tiên, với những người đã khuất. Tuy có những ảnh hưởng nhất định của lễ giáo phong kiến nhưng cũng không đến mức nặng nề. Đó là nét văn hóa trong tập quán ở của Việt sống dọc đôi bờ sông Thạch Hãn.
Tóm lại: Nhà ở dân gian của người Việt sống dọc đôi bờ sông Thạch Hãn tuy có lịch sử hình thành khá sớm, nhưng qua những biến cố của thời gian, chiến tranh liên miên, khí hậu thiên tai khắc nghiệt… nên những ngôi nhà hiện còn đến nay rất ít và có niên đại khá muộn, nhưng những gì còn lại hôm nay trong vốn liếng di sản văn hóa ít ỏi của vùng đất máu lữa này đều rất đáng quý, đáng trân trọng mà mỗi chúng ta cần phải giữ gìn.
III. ĐÌNH.
III. 1. ĐÌNH LÀNG-NGUỒN GỐC XUẤT HIỆN.
Đình làng là công trình kiến trúc lớn nhất trong một làng quê - là ngôi nhà công cộng gắn kết dân làng trong một xã hội tự quản thời quân chủ phong kiến; là trung tâm sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng của cả cộng đồng: Nơi thờ thần bảo hộ của cả làng - thần Thành hoàng và các chư vị thần thánh trong một ý niệm “bách thần sở hội”; nơi diễn ra các hoạt động nhóm họp, bàn bạc việc công làng xã, tổ chức lễ hội, hội hè.... Ngôi đình là biểu tượng của sức mạnh, là niềm tự hào, ngưỡng vọng của cả làng, là nơi duy trì phong tục, lề thói, bày tỏ tấm lòng, đạo lý sống không quên cội nguồn, tổ tiên của cư dân người Việt. Tại đây, những chức năng tôn giáo, tín ngưỡng, văn hoá, hành chính diễn ra hòa nhập, đan xen hỗ trợ cho nhau để trở thành một hệ thống tín ngưỡng thống lĩnh chi phối toàn bộ cuộc sống tâm linh của người dân sau luỹ tre làng.
Sự xuất hiện các ngôi đình làng của người Việt dọc đôi bờ sông Thạch Hãn luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển địa giới hành chính, cư dân của các làng. Đó là quá trình các thành phần lưu dân từ các vùng đất tổ phía Bắc vào nhập cư vào vùng đất này theo thời gian sớm muộn khác nhau. Sau khi đã ổn định cuộc sống, an cư lạc nghiệp thì việc đầu tiên họ nghĩ đến là cần chăm lo đời sống tín ngưỡng, tâm linh cho tất cả cộng đồng. Đình làng - ngôi nhà công cộng xuất hiện đáp ứng đầy đủ nguyện vọng của người dân.
Khác với nguồn gốc xuất hiện đình làng ở miền Bắc, đình làng đôi bờ sông Thạch Hãn không xuất phát từ đình trạm (dịch trạm), mà từ một lý do thôi thúc đối với những người dân tại vùng đất mới trên hành trình tiến về Nam cần có một nơi sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng để giải quyết những vấn nạn về tâm lý trước những bất ổn thường trực của hoàn cảnh xã hội Đàng trong những thế kỷ đầu khởi nghiệp. Chưa thể có đầy đủ những cứ liệu để khẳng định một cách chắc chắn ngôi đình làng sớm nhất trên khu vực đôi sông Thạch Hãn xuất hiện vào thời gian nào, nhưng xét trong bối cảnh chung của toàn vùng Trị - Thiên thì có thể nhận thấy từ sau thế kỷ XVI đã bắt đầu xuất hiện kiến trúc đình làng. Vì điều kiện kinh tế khó khăn của thời kỳ đầu lập nghiệp, những người lưu dân trên vùng đất mới hẳn đã không thể có đủ vật lực để xây dựng nên những ngôi đình có kiến trúc khang trang mà chỉ là sự tạo lập không gian thiêng để thờ cúng thần linh thông qua những địa điểm nền đình lộ thiên (đình không có nhà).
Việc tồn tại một số lượng đáng kể loại hình đình lộ thiên ở khá nhiều làng xã có lịch sử hình thành sớm trên vùng đất dọc đôi sông Thạch Hãn như: Bích Khê, An Mô, Phương Ngạn, Vệ Nghĩa, Phù Lưu, Đâu Kênh (Triệu Long); làng Dương Lệ (Triệu Thuận); làng Gia Độ, An Dạ, Giáo Liêm (Triệu Độ); làng Vinh Quang Hạ (Do Quang); làng Diêm Hà (thị trấn Cửa Việt) Hoàng Hà, Bạch Câu (Do Việt); Vĩnh Phước (Phường Đông Lễ)... một mặt phản ánh những tập quán văn hoá tín ngưỡng của người dân trong các làng xã; nhưng mặt khác còn là những minh chứng cho nguồn gốc xuất hiện đình làng dọc đôi sông Thạch Hãn là từ những địa điểm được chọn làm nơi thờ cúng, tế lễ của cộng đồng mà người dân làng xã coi như là những nền đình - ngôi đình không có nhà - một thiết chế văn hoá, tín ngưỡng buổi đầu sơ khai.
Phần lớn kiến trúc đình làng người Việt dọc đôi bờ sông Thạch Hãn đều được xây dựng dưới thời chúa Nguyễn và vua Nguyễn và thường có niên đại khởi tạo sau thế kỷ XVII - khi mà nền kinh tế Đàng trong đã có những bước chuyển biến mới và tình hình xã hội đã được ổn định. Những ngôi đình còn lại đến nay ở vùng đất này có hiện trạng kiến trúc, trang trí đều thuộc phong cách của thế kỷ XIX - XX; nhưng nhìn chung đây là niên đại sửa chữa, tu bổ nhiều hơn khởi dựng. Như vậy, có thể khẳng định các đình làng còn tồn tại đến nay hầu hết đã qua trùng tu, sửa chữa, thậm chí làm mới lại nhiều lần nên dù ít hay nhiều đều có những thay đổi về kiến trúc, trang trí và không còn giữ nguyên dạng ban đầu.
III. 2. KIẾN TRÚC ĐÌNH LÀNG.
Bất kỳ một làng dù to hay nhỏ đều có một đình làng dùng để thực hiện chức năng sinh hoạt tín ngưỡng, văn hoá, xã hội của cả cộng đồng; nhưng không phải ngôi đình nào cũng có một công trình kiến trúc được dựng lên dưới dạng có một ngôi nhà mà ở khá nhiều làng chỉ tồn tại những nền đình lộ thiên - một ngôi đình vẫn thực hiện một cách đầy đủ các chức năng như tính chất vốn có của nó - nhưng chỉ khác là không có ngôi nhà (hoặc ngôi nhà chỉ xuất hiện tạm thời vào những lúc tế lễ làng rồi sau đó lập tức bị tháo dỡ đi). Chính vì thế, dưới góc độ phân loại, kiến trúc đình làng người Việt dọc đôi bờ sông Thạch Hãn có hai loại hình, đó là:
- Loại kiến trúc đình làng có nhà: đình Như Lệ (Hải Lệ), đình Tích Tường, đình Thượng Phước, đình Nhan Biều, đình Xuân An, đình Trung Kiên (Triệu Thượng); đình Cổ Thành, đình An Tiêm, đình Hậu Kiên (Triệu Thành); đình Ái Tử (Triệu Ái), đình An Lợi, đình Trung Yên (Triệu Độ); đình Duy Phiên, đình Cao Hy, đình Lưỡng Kim, đình An Cư, đình Việt Yên, đình Vĩnh Lại, đình Dương Xuân (Triệu Phước); đình Hà Tây, đình Tường Vân (Triệu An); đình Đại Lộc (Thị trấn Cửa Việt); đình Mai Xá, đình Mai Xá Thị (Gio Mai); đình Lập Thạch (Phường Đông Lễ); đình Trung Chỉ, đình Đại Áng (Phường Đông Lương)...
- Loại kiến trúc đình lộ thiên: đình Mai Sơn (Ba Lòng), Tân Lệ (Hải Lệ); đình Bích Khê, đình Tân Định, đình An Mô, đình Bích La Thượng, đình Phương Ngạn, đình Đâu Kênh, đình Vệ Nghĩa, đình Phù Lưu (Triệu Long); đình Dương Lệ, đình Dương Lộc, đình Võ Thuận (Triệu Thuận); đình Gia Độ, đình An Dạ, đình Giáo Liêm, đình Xuân Thành (Triệu Độ); đình Vinh Quang Hạ (Do Quang); đình Hà Lộc, đình Diêm Hà, đình Long Hà (thị trấn Cửa Việt), đình Hoàng Hà, đình Bạch Câu (Do Việt), đình Vĩnh Phước, đình Lai Phước (Phường Đông Lương)...
Nhiều làng xưa kia đình lộ thiên, nhưng ngày nay do con cháu, dân làng làm ăn phát đạt đã chuyễn sang làm đình có nhà để tiện cho việc thờ cúng tế lễ và hội họp: đình Thanh Liêm (Triệu Độ) chuyển từ đình lộ thiên sang đình có nhà năm 1975, đình Phú Hội (Triệu An) được làm năm 1969, đình Tân Xuân (Do Việt) năm 2009, đình Lạng Phước (Phường Đông Lễ) được chuyển vào thời thuộc Pháp.
Bên cạnh đó cũng có một số làng do quá trình lập làng khá muộn: làng mẹ đẻ làng con như: làng Văn Vận (Hải Phúc), làng Văn Vận, làng Lương Hạ (Ba Lòng), làng Tân Mỹ (Hải Lệ), làng Trấm (Triệu Thượng), làng Phúc Lộc (Triệu Thuận), làng Quy Hà (Triệu Độ); Các làng chài lên định cư ở đất liền: Làng Vạn Đá Nổi (Ba lòng), làng An Lợi (Triệu An); các nhóm dân cư từ vùng Triệu Phong, Hải Lăng tiến dần lên khai phá và tiếm cứ đất đai của người bản địa - Bru, Vân kiều để lập nên các làng xã của người Việt: làng Xuân Lâm (Triệu Nguyên), làng Phú Thành (Mò Ó) … với những khó khăn thiếu thốn về kinh tế, đời sống chưa đi vào ổn định lại luôn dời làng xóm từ vị trí này sang vị trí khác, nên các làng này các thiết chế văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo đến nay hầu như không có gì đáng kể. Các làng này từ xưa đến nay không có đình, chùa.
III. 2. 1. Vị trí và cảnh quan chung của đình làng.
Vị trí toạ lạc của các ngôi đình dù ở bất cứ làng nào, dù đình lộ thiên hay đình có nhà cũng dựa vào địa thế sơn thuỷ hữu tình, ở đó không chỉ mang lại vẻ đẹp cho cả làng, thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội, vui chơi mà còn ứng với thuật “phong thủy” - một quan niệm về địa cuộc tốt để dân làng có được một mảnh đất trù phú, ăn nên làm ra, cuộc sống đầy đủ sung túc.
Đình không hẳn cần toạ lạc ở vị trí trung tâm của làng mà cần chọn đất dựng đình theo thuật “phong thuỷ”. Quan niệm dân gian coi việc chọn địa điểm và hướng để dựng các ngôi đình là một việc làm hết sức quan trọng. Vì nếu không thì những tai ương sẽ không tránh khỏi.
Toét mắt là tại hướng đình.
Cả làng toét mắt chớ mình chi em.
Khác với các loại hình kiến trúc như: chùa, đền, miếu thường được xây dựng ở những nơi tỉnh mịch, lánh chốn ồn ào thì đình làng được xây dựng ở các trung tâm, các trục đường giao thông hay gần chợ búa có nhiều người qua lại. Hướng của các ngôi đình đa phần đều là hướng chính Nam và quay mặt ra sông Thạch Hãn, bởi dòng sông ngày xưa là mối giao thông quan trọng của người dân nhưng cũng là mạch nguồn chuyển tải các yếu tố văn hoá, vũ trụ để lắng đọng trong nhận thức, tư duy của người dân để từ đó sản sinh ra những nét văn hóa độc đáo mang sắc thái riêng biệt của mỗi vùng quê.
Đình không nhất thiết phải dựng trên gò cao, nhưng phía sau và hai bên cần có những chỗ đất cao để làm “tay ngai” (tay Long, tay Hổ) và mặt trước đình cần có nước. Đó là thế đất “tụ thuỷ” mà "tụ thuỷ” cũng có nghĩa là hội tụ "Linh” và "Phúc”. Có thể nói đây là nơi hội tụ những gì may mắn và tốt đẹp nhất. Đặc biệt cần tránh những nơi sụt lỡ, nơi “thoái thuỷ” ở những khúc sông thẳng. Bên cạnh yếu tố tụ thuỷ nếu có thêm yếu tố “tụ sơn” hay địa hình nổi lên gò đống như hoa sen, rồng lượn, phụng múa, rùa bò (trong quan niệm tứ linh) thì càng tốt.
Vì tin vào thuật “phong thủy” nên nhiều ngôi đình đã xoay hướng, hoặc dời đình từ vùng đất này sang vùng đất khác là điều không tránh khỏi. Tuy nhiên, đây là những nét chung cơ bản còn khi nghiên cứu từng ngôi đình cụ thể thì còn phụ thuộc vào hoàn cảnh riêng biệt của từng làng.
III. 2. 2. Những nét cơ bản về kiến trúc, trang trí mỹ thuật ở đình làng.
Sau khi đã chọn được thế đất và hướng đình thích hợp, người dân bắt đầu xây dựng đình. Từ xưa đến nay kiến trúc đình làng dọc đôi bờ sông Thạch Hãn được làm theo 4 dạng: Một là những ngôi đình kiến trúc lộ thiên (đình không có nhà), hai là những ngôi đình có bố trí mặt bằng chỉ gồm một toà đại đình nằm theo chiều dọc, mặt tiền mở ra từ gian chái (dạng này chỉ xuất hiện ở thời điểm những thế kỷ XVII - XVIII, hiện nay đã không còn vì đa số đã thay đổi và chuyển sang bố trí theo chiều ngang). Ba là một tòa đại đình chỉ gồm một nếp nhà nằm ngang theo dạng chữ nhất (như: Đình Nhan Biều, đình Thượng Phước, đình Xuân An, đình Trung Kiên (Triệu Thượng); đình Cổ Thành, đình An Tiêm (Triệu Thành); đình Mai Xá, đình Mai Xá Thị (Gio Mai); đình Trung Chỉ, đình Đại Áng (Phường Đông Lương)… Bốn là gồm hai nếp nhà song ngang bố trí theo lối chữ nhị, ngôi nhà trước là tiền đường làm nơi tổ chức các cuộc hội họp, ăn uống. Ngôi nhà sau là đình trung làm nơi thờ cúng; ngăn cách giữa hai nếp nhà là hệ thống cửa bản khoa. Mái sau của tiền đường và mái trước của đình trung được nối với nhau qua một máng xối thuần tuý như: đình An Lợi (Triệu Độ), đình Lưỡng Kim, đình Việt Yên, đình An Cư (Triệu Phước); đình Hà Tây, đình Tường Vân (Triệu An); đình Lập Thạch (Phường Đông Lễ)... Ngoài 4 dạng phổ biến trên, đình làng Trung Yên (Triệu Độ) được xây dựng theo kiểu chữ đinh, tiền đường là một nếp nhà ngang, đình trung làm nơi thờ tự được bố trí theo chiều dọc. Tất cả đều xây dựng bằng xi măng cốt thép nhưng được biến tấu theo kiểu nhà rường 1 gian 2 chái. Đa số trong khuôn viên của các ngôi đình còn có một số ngôi miếu thờ như: Bổn thổ Thành Hoàng, Miếu Tiền khai khẩn... như: Đình Hà Tây, đình Mai Xá Thị, đình Lập Thạch, đình Trung Yên...
Loại kiến trúc đình lộ thiên (đình không có nhà) chiếm khá nhiều ở các làng dọc đôi bờ sông Thạch Hãn, đa số có kiến trúc đơn giản, thậm chí một số làng chỉ có nền đình. Tất cả đều chung một kiểu thức: Trong một khu đất đã được chọn, người dân chỉ cần xây một khuôn viên có tường rào bao quanh, phía trước cổng trụ đắp các câu đối bằng chữ Hán ngợi ca cảnh trí, địa thế, bề dày văn hóa, công lao dựng xây làng mạc của các bậc tiền nhân, cùng với tấm lòng ngưỡng vọng, trân trọng của người dân đối với ngôi đình của mình. Trước đình làng Tân Định có cặp câu đối:
Tiền diện Hãn giang thiên niên y cựu
Hậu bối cư dân vạn thế lưu truyền
(Phía trước mặt, dòng Thạch Hãn vẫn còn muôn thuở
Ở sau lưng, cư dân mãi mãi lưu truyền)
Hay như câu đối ở đình làng An Dạ:
Khai cơ đại nghĩa thiên thu tại
Thác thủy hồng ân vạn cổ lưu
(Nghĩa lớn dựng xây còn muôn thuở
Ghi nhớ hồng ân mãi muôn đời)
Có những câu đối khẳng định sự tồn tại vĩnh hằng của cặp đôi “Non Mai - Sông Hãn” nhờ vào khí thiêng sông núi để hình thành, quy tụ lập nên làng mạc; từ đó giáo dục hậu thế ngàn muôn năm sau cần phải có trách nhiệm gìn giữ để khí thiêng núi sông đời đời hưng vượng. Câu đối ở đình làng Đâu Kênh:
Mai sơn lẫm liệt đối diện kết đồng hương
Hãn thủy oai phong trung tâm chiếu ngũ tộc
(Ngọn Mai Lĩnh lẫm liệt ở trước mặt kết nối đồng hương
Dòng Thạch Hãn hiên ngang giữa đất trời chiếu về 5 họ)
Hoặc như câu đối ở đình làng Gia Độ
Hãn thủy trường lưu vạn cổ xuân
Mai sơn viễn chiếu thiên niên trụ
(Sông Hãn trôi hoài xuân muôn thuở
Non Mai xa rọi mãi mãi còn)
Qua cửa vào đình phía trong sân được xây một bức bình phong, đây là cái “ngưỡng” cần thiết để tự kiểm tra thái độ của con người khi vào cửa đình đồng thời bình phong cũng dùng để chắn tà khí làm ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của đình. Bình phong được đắp theo dạng cuốn thư, ở giữa trang trí mặt hổ phù miệng ngậm chữ thọ hoặc long mã chở lạc thư… xung quanh là các tiểu cảnh hoa lá, chim, thú. Chính giữa nền đình có các án thờ bằng xi măng (thường là 3 đến 5 án thờ) bên trên có đặt các bát nhang; phía trên án thờ có đắp nỗi vôi vữa và ghép các mãnh sành sứ hoặc tô viết bột màu các chữ Hán: gian giữa thường là chữ Thần, hai bên là chữ Tả, Hữu hoặc các chữ Thọ. Tuy có kiến trúc và trang trí mỹ thuật đơn giản, nhưng những ngôi đình lộ thiên vẫn thực hiện một cách đầy đủ các chức năng như tính chất vốn có của một ngôi đình, là niềm tự hào, ngưỡng vọng của người dân.
Kiến trúc đình làng có nhà: Trước đây các ngôi đình dọc đôi bờ sông Thạch Hãn, dù là một tòa đại đình hay hai nếp nhà song ngang đều được xây dựng theo mô thức kiến trúc nhà rường với kết cấu của một bộ khung gỗ chịu lực được liên kết bởi các thành phần cấu kiện gỗ lại với nhau gồm: hệ thống cột hàng nhất, hàng hai, hàng ba, hàng tư (hàng tổng), cột quyết, cột đấm; hệ thống các tay kèo thượng (hàng nhất), kèo hạ (hàng hai), kèo cù (hàng ba), kèo hiên (hàng tư), kèo đấm, quyết thượng và hạ; hệ thống xuyên, trến (trếng) xà, đòn tay; hệ thống rui, mè (mè); hệ thống nghạch (nghẹc)... được gọi là bộ vài/ vì kèo. Nó không giống như cấu trúc khung gỗ chịu lực ở kiến trúc miền Bắc và càng khác biệt so với kiến trúc ở phía Nam. Kiểu vài chồng và vài luôn là 2 dạng vài kèo phổ biến nhất trong kiến trúc đình làng dọc đôi bờ sông Thạch Hãn. Tuy có những điểm khác nhau cơ bản về kỷ thuật và nơi thể hiện các hình thức trang trí nhưng đó là những dạng kèo tương đồng nhau. Vài chồng trong kiến trúc chẳng qua là sự biến dạng của vài luôn cho phù hợp với công trình. So với vài luôn- là dạng vài kèo chỉ có mặt chủ yếu trong nhà rường dân gian thì vài chồng có mặt hầu khắp các công trình tín ngưỡng, tôn giáo đặc biệt là đình, chùa. Các bộ phận ở gian chái thường được kết cấu theo kiểu chái kép. Cấu trúc kiểu chái kép được tạo thành bởi hệ thống các cột quyết, cột đấm, kèo quyết, kèo đấm theo dạng đấm, quyết kép (gọi là đấm - quyết thiệt) nhằm mục đích mở rộng thêm diện tích cho gian chái.
Trên khung gỗ của ngôi nhà rường ở các đình, ngoài việc các cột gỗ tạo tác dưới dạng “thượng thu, hạ thách” và được bào bóng nhoáng, thì ở các bộ phận như trến, các tay kèo được tạo dáng theo kiểu “kèo cong, trếng lận” với hình dáng thon thả, thanh thoát; kết hợp với kỹ thuật “lòng song, chỉ nổi” tạo nên những đường lượn mềm mại, uyển chuyển. Đặc biệt, tay kèo cù thường được tạo dáng thành hình dạng của một con cù (rồng/ giao biến thể) rất công phu, đẹp mắt, đuôi cù thường được tạo bởi các hoạ tiết hoa văn hình đao mác, những đám mây hồi cố. Trên các tấm mê cốn thay cho chiếc đấu đỡ đòn tay mà người Quảng Trị gọi là “con bạo” trang trí các hoạ tiết bát bửu, dây lá... Dưới bụng các cầu điếu được trang trí mô típ tam sơn, tam phúc, các đầu trến (trếng) thường được trang trí dây lá hoá long. Kỹ thuật trang trí trên các thành phần kiến trúc đình làng dọc đôi bờ sông Thạch Hãn được sử dụng chủ yếu là nghệ thuật chạm bong. Một số ít ngôi đình có hệ thống liên ba (thượng, hạ) được trang trí bằng mô típ ô hộc kết hợp con tiện, bên trong các ô hộc thể hiện các đề tài “bát bửu”, “tứ linh” dưới dạng biến thể, cách điệu...; kỹ thuật trang trí có khi là chạm lọng, có khi chạm bong kết hợp khảm cẩn.
Ngoài ra, bên trong nội thất các ngôi đình thường được trang trí thêm bởi hệ thống các hoành phi, liễn, đối viết bằng chữ Hán dưới đủ các dạng: hành, thảo, triện được khắc chìm (có khi đắp nổi) trên gỗ bằng nghệ thuật chạm trổ kết hợp kỹ thuật sơn son, thếp vàng. Những câu đối, hoành phi thường được các họ tộc, các gia đình có quyền thế trong làng phụng cúng sau mỗi lần tu tạo xây dựng lại đình làng.
Nhìn chung, kiến trúc đình làng dọc đôi bờ sông thạch Hãn về quy mô, cách thức, kỹ thuật trang trí trên bộ khung gỗ tuy có lớn hơn nhà ở của người dân, hay nhà thờ các họ tộc; nhưng về cơ bản không có sự tách biệt quá lớn về kiến trúc, mà đó chỉ là một bước phát triển về nhiều mặt, nhiều phương diện của nhà ở dân gian để phù hợp với chức năng của mình. Bởi lịch sử đình làng chắc chắn không thể nào tách rời với quá trình ra đời và phát triển của nhà ở. Lúc mọi người dân quần cư sinh sống thì mới có nhà, có làng. Khi cộng đồng làng xã sinh sống ổn định thì điều đầu tiên nghĩ đến là phải có đình làng để làm nơi thờ cúng, sinh hoạt văn hóa, cho cả cộng đồng đó là điều tất yếu.
Đình làng là kho tàng phong phú nhất của nền trang trí mỹ thuật, đó là sự đáp ứng về thị hiếu và lòng khao khát về cái đẹp của con người. Tại đình làng, người dân muốn đưa cái đẹp vào cuộc sống; tạo nên sự hài hòa giữa xã hội, con người và tự nhiên; từ đó nâng cao năng lực thụ cảm và đầu óc sáng tạo của người dân.
Trong mỗi làng, người dân ngoài việc dựng đình cao lớn, đồ sộ thì một ước muốn luôn canh cánh bên lòng là làm sao cho ngôi đình mình lộng lẫy, uy nghi. Đây là điều mà hầu hết các đình làng thể hiện rõ nhất.
Mỗi ngôi đình thường được giới hạn trong một khuôn viên cụ thể, có cổng vào đình được xây bằng những trụ biểu cao, phía trên có gắn lồng đèn và các bầu hồ lô để hứng các tinh hoa của trời đất (như: đình Nhan Biều, đình Mai Xá, đình Tường Vân). Đặc biệt cũng có những đình cổng đi vào là một nghi môn được kiến trúc theo kiểu vòm cuốn, bên trên có gác vọng lâu từ 1 đến 2 tầng được trang trí rất đẹp, ở các trụ biểu có đắp nỗi các câu đối bằng chữ Hán ca ngợi cảnh trí tọa lạc của đình cùng công lao mở nghiệp dựng đặt hương hiệu làng xã, của các vị tiền hậu khai khẩn, qua đó nhắc nhở cháu con phải biết trân trọng, gìn giữ truyền thống quý báu của cha ông để lại. Tại nghi môn đình Lập Thạch có viết:
Thạch giang thanh hề nguyên lưu hữu tự
Lập thụ mỹ hỉ thứ đệ tất khai
(Sông Thạch trong từ đâu nguồn chảy
Trồng cây đẹp thứ tự người khai)
Hoặc như câu đối ở đình làng An Lợi:
Hách dịch thiên thu nhân khởi kính
Anh linh vạn cổ khí do tồn
(Hiển hách muôn thu gợi lòng tôn kính
Linh thiêng muôn thuở khí phách mãi còn)
Câu đối ở đình làng Lưỡng Kim
Thiên trụ địa duy vạn cổ di lưu quang lạn
Thần công thánh đức thiên thu nẫm trứ anh linh
(Trời che đất chở muôn thuở vững bền sáng lạng
Công thần đức thánh nghìn thu ghi nhớ thiêng liêng)
Câu đối ở đình làng Mai Xá Thị
Chẩm hậu Mai Tiên sơn trấn bảo
Án tiền Hãn Việt thủy triều nghinh
(Gối đầu Mai Lĩnh Cồn Tiên
Tựa chân Thạch Hãn Việt Yên chầu về )
Phía sau cổng đình thường được xây một bức bình phong. Đây là cái "ngưỡng" cần thiết để tự kiểm tra thái độ của con người khi vào cửa đình; đồng thời dùng để chắn tà khí, ngăn những cặp mắt xoi mói xấu xa, trần tục nhìn vào đình. Các bức bình phong thường được xây bằng gạch và trang trí bằng cách đắp nổi vôi vữa, gắn các mảnh sành sứ, thuỷ tinh với các mô típ chính như “long mã chở lạc thư”, “hổ phù”... ; xung quanh là các đường diềm hồi văn, “bát bửu”, tiểu cảnh hoa lá, chim muông... thể hiện lòng ước mong của dân làng về mọi điều tốt đẹp sẽ đến trong cuộc sống. Sân đình thường được bố trí một khoảng không gian tương đối rộng để tiện cho các hoạt động lễ lạt, hội hè. Trong sân bao giờ cũng được trồng các cây cổ thụ (sanh, đa...) để lấy bóng mát và tạo nên cảnh trí thâm nghiêm, linh thiêng cho ngôi đình.
Bộ mái các đình làng vùng đôi bờ sông Thạch Hãn ngày trước thường được lợp ngói liệt, sau này được thay bằng ngói móc đều có hệ thống mái không võng xuống, các bờ nóc, bờ quyết không vút lên như các đình làng miền Bắc. Bộ mái ở kiến trúc đình đa số phẳng, cao và có độ dốc lớn với sự kết hợp của hàng cột thon nhỏ, mảnh mai ở phía trước không những làm giảm đi đáng kể tác dụng của phương vị ngang, làm mất đi vẻ nặng nề đồ sộ, mà còn giữ được nét thanh thoát, nhẹ nhàng, không bị kéo thấp xuống và bạt ra ngoài. Với những ưu điểm như thế, bộ mái của công trình vừa có vẻ cứng cáp và mảnh mai nhưng không yếu ớt, vừa thích hợp với môi trường khí hậu Bình - Trị - Thiên và phù hợp với cảnh quan của kiến trúc tại Quảng Trị.
Bộ mái của đình chiếm già nửa so với chiều cao, xoè rộng ở mặt phẳng nghiêng. Để chống chọi với gió bão nên ở các bờ nóc, bờ dải đều được đắp to, đè mái chắc chắn nhưng lại trang trí rực rỡ nhờ việc gắn lên trên đó các hình ảnh thuộc bộ “tứ linh”, hai đầu bờ nóc thường đắp hồi long “lưỡng long chầu nguyệt hoặc lưỡng long chầu mặt hổ phù”; các góc được đắp ly, quy, phụng; các góc đao gắn giao lá, giao hồi văn bằng nghệ thuật đắp vữa, ghép mảnh sành sứ, làm cho bộ mái nhẹ nhàng hẳn đi và có cảm giác như vút lên.
Nếu điêu khắc trên gỗ ở các đình làng không có gì đặc biệt và giảm sút so với các đình ở miền Bắc thì ngược lại, các ngôi đình dọc đôi bờ sông Thạch Hãn lại phát triển các hình thức trang trí bằng nghệ thuật đắp nổi vôi vữa và ghép các mảnh sành sứ hoặc tô vẽ bột màu được thể hiện trên các bờ nóc, bờ dải, đầu đao của bộ mái; trên các cột xây bằng gạch, xi măng, bê tông ở tiền đường; trên các trụ biểu, nghi môn ở cổng... với các đề tài phong phú, đa dạng về động vật như: long, ly, quy, phụng, dơi, hạc... ; các đề tài về “tứ thời”, “tứ quý”, “bát bửu”, các loại hoa, trái...; các tiểu cảnh “liên áp”, “tùng lộc”, “long mẫu hý long nhi”, “hổ phụ sinh hổ tử”, “long mã chở lạc thư”, “lưỡng long triều nhật/ nguyệt/ hổ phù”, “vinh quy bái tổ”, “ngư, tiều, canh, mục”; các mô típ hoa văn chữ Hán thể hiện dưới dạng các hoành phi, đối liễn; các trang trí ô hộc kết hợp với các hoạ tiết động, thực vật... Nhìn chung đó là phong cách trang trí phổ biến vào đời các vua Nguyễn.
Các hình ảnh, mô típ trang trí có khi được thể hiện bằng hình ảnh thực, nhưng có khi lại được các nghệ nhân sử dụng phương pháp cách điệu và mang tính biểu trưng, khái quát cao. Các loại cây cối, hoa lá, dây leo... thường được tạo thành các hoá thân của động vật như: trúc hoá long, dây lá hoá long, phụng... Các đề tài cây hoa có khi nằm riêng lẻ một mình nhưng có khi lại được đi kèm với thú vật để tạo ra các đề tài kết hợp làm cho các bức tranh thêm sinh động. Các tiểu cảnh thường được kết hợp với nhiều mô típ hoa văn khác như “thuỷ ba”, đường diềm, hồi văn...
Tất cả các đề tài trang trí ở nội hay ngoại thất của đình làng đôi bờ sông Thạch Hãn - Quảng Trị đều xoay quanh mục đích thể hiện quan niệm, triết lý nhân sinh quan, vũ trụ quan của người dân làng xã theo quan điểm đạo Nho; đồng thời gửi gắm những điều ước muốn cầu cho vật thịnh, dân an, ấm no, hạnh phúc của người dân làng xã.
Tuy nhiên, dù ít, dù nhiều, nghệ thuật trang trí ở đình làng đôi bờ sông Thạch Hãn vẫn thắm đượm tính chất dân gian, nó thanh thoát, dịu dàng, uyển chuyển góp phần làm phong phú cho nền kiến trúc, nghệ thuật Quảng Trị/ miền Trung. Có thể coi đình Trung Chỉ, đình Mai Xá, đình An Lợi là những kiến trúc truyền thống có bộ khung gỗ được trang trí khá đẹp trong tất cả các ngôi đình làng dọc đôi bờ sông Thạch Hãn nói riêng và của cả vùng đất Quảng Trị nói chung.
III. 2. 3. Phối trí thờ tự trong đình.
Kiến trúc đình làng dù có khác nhau về quy mô, diện tích sử dụng nhưng đều thống nhất tương đối ở việc bố trí mặt bằng nội thất. Đó là việc phân định không gian nội thất thành 2 phần là: tiền đình (tiền đường) và đình trung. Tiền đường thường được dùng làm nơi sinh hoạt, hội họp, ăn uống. Đình trung làm nơi thờ tự, là chốn trang nghiêm. Ngăn cách giữa hai phần là hệ thống cửa bản khoa. Trước đây, khi những ngôi đình chỉ có một đại đình nằm theo chiều dọc thì phần tiền đường thường gồm không gian của gian chái trước và 1 hoặc 2 gian chính; các gian còn lại được sử dụng làm đình trung. Những ngôi đình chỉ có một toà đại đình nằm ngang thì không gian trải theo chiều dọc phía sau cùng (từ cột hàng nhất hậu đến sát tường) cộng thêm không gian chính giữa của các gian chính được sử dụng làm nơi thờ tự (tạm gọi là đình trung); phần còn lại dùng làm nơi hội họp, ăn uống, tế lễ (tạm gọi là tiền đường). Về sau, khi một số ngôi đình được nối thêm kiểu “nhà vỏ cua” phía trước thì không gian ngôi nhà trước gọi là tiền đường, không gian của ngôi nhà sau gọi là đình trung. Đình làng dọc đôi bờ sông Thạch Hãn - Quảng Trị dù chỉ là một toà đại đình hay hai nếp nhà song ngang thì phần tiền đường thường để thông thoáng với bên ngoài.
Ở tất cả các ngôi đình làng dọc đôi bờ sông Thạch Hãn dù kiến trúc đình dưới dạng nào (Đình lộ thiên, một tòa đại đình hay 2 nếp nhà song ngang) thì mặt bằng đình trung cũng được bố trí làm nơi thờ tự, là chốn thâm nghiêm của ngôi đình. Phối trí thờ tự trải dài ở tất cả các gian của đình (thường là 3 hoặc 5 gian). Gian giữa - nơi trang trọng nhất ở tất cả các đình đều được thờ thần Thành hoàng của làng - đây là vị thần bản mệnh tối cao trong đời sống tâm linh của người dân các làng xã mà không có làng nào không thờ cúng, thần ngự trị trên cõi thiêng để thực hiện một sứ mệnh là cai quản, che chở giúp rập cho cả làng; vì thế thần là chổ dựa tinh thần vững chắc nhất cho tất cả mọi người dân. Thờ cúng Thành hoàng được phổ biến từ xưa và lưu truyền lại cho đến ngày nay ở tất cả các làng người Việt vùng Quảng Trị. Tùy theo quan miệm, truyền thuyết liên quan đến vị thần Thành hoàng mà án thờ được trang trí khác nhau, nhiều làng vẽ mặt “hổ phù miệng ngậm chữ thọ” (như đình làng Tường Vân, đình Nghĩa An…). Một số làng gian giữa thường viết chữ Hán:“Thần”(như đình Gia độ, An Dạ… ), nhiều làng gian thờ Thành hoàng chỉ vẽ hình “lưỡng long chầu nguyệt” … Hai gian kế bên thờ “Bách thần sở hội” - là tập hợp tất cả các vị thần linh kể cả nhiên thần và nhân thần được toàn thể dân làng sùng bái. Các vị “Bách thần sở hội” ở các đình đa số là nhiên thần: đó là thần Cao Sơn (thần núi), Cao các (thần rừng), Hỏa đức phu nhân (thần lữa), Thủy đức phu nhân (thần nước), Thiên y a na, Bà chúa ngọc (Thần mẹ xứ sở người Chăm)… Các vị nhân thần: là những con người bằng xương bằng thịt, đều có gốc tích lai lịch rõ ràng, việc làm của các vị thần là hành động nghĩa cử, những cống hiến của của thần đều có liên quan ít nhiều đến quốc gia, dân tộc và con cháu trong làng - đó là các vị tiền, hậu khai khẩn, khai canh, thủy tổ các dòng họ… Tất cả các vị thần dù là nhiên thần hay nhân thần mỗi khi đã được người dân thờ cúng, tôn sùng thì đó chính là sự phản ánh những quan niệm về tư tưởng, nguyện vọng, ước muốn, tình cảm của mình trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, địch họa để bảo vệ cuộc sống của cộng đồng. Chính các vị thần là những yếu tố thực việc gìn giữ cuộc sống, sự sinh tồn và phát triển của xã hội, là gạch nối giữa con người và tự nhiên. Các gian thờ “Bách thần sở hội” đa số được trang trí hai chữ Hán: “Anh , Linh”, với nghĩa là chốn tôn nghiêm thờ cúng những người tốt đẹp, xuất chúng, mọi người cần tôn trọng. Một số làng các gian này thường vẽ một số cảnh về “tứ linh”. Thường hai bên chánh điện của đình bài trí tán lộng che phủ cùng bộ chấp kích (lỗ bộ) như: tán, tàn, cờ, quạt, đồ bát bữu nhằm làm cho án thờ trang trọng, tượng trưng cho uy quyền của thần, tạo vẽ uy nghiêm nơi thờ tự. Thường tất cả các vị thần đều có miếu thờ riêng của họ, thường chỉ được rước về đình khi tế lễ, sau buổi tế lễ xong lại được nghinh về an vị tại trú sở của mình; ở đình chỉ thờ vọng nên ít khi có thần vị cũng như mộc chủ trên các án thờ.
Như vậy toàn bộ kiến trúc về đình làng dọc đôi bờ sông Thạch Hãn - Quảng Trị là bản quy hoạch rất hoàn chỉnh về sử dụng các ưu thế về đất đai, cảnh quan thiên nhiên để bố trí, sắp xếp, bố cục công trình, kết hợp với những thành quả sáng tạo về quy cách kiến trúc, kỹ thuật xây dựng và tổ chức trang trí một cách hợp lý làm tăng thêm vẽ đẹp cho ngôi đình nhằm đáp ứng công năng sử dụng, giá trị kiến trúc và nhu cầu thưởng thức thẩm mỹ của người dân làng xã. Kiến trúc đình làng giàu chất nhân bản, đầy tính lạc quan và rất hiện thực với cuộc sống của mọi người dân. Đó thực sự là những di sản có giá trị của cha ông chúng ta để lại mà các thế hệ ngày nay cần ra sức trân trọng giữ gìn.
Ngôi đình làng - cái nôi văn hóa của người Việt vùng dọc sông Thạch Hãn ngày càng phát triển sẽ mãi là kiến trúc độc đáo của mọi tầng lớp nhân dân.
IV. CHÙA.
IV 1. CHÙA-NGUỒN GỐC XUẤT HIỆN.
Chùa là một loại kiến trúc của Phật giáo. Trong các làng xã cổ truyền của người Việt, ngôi chùa vừa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh nhưng cũng là trung tâm văn hoá của các thành viên trong làng. Một mặt, ngôi chùa là chốn thờ Phật và các vị Bồ tát, nơi các thiện nam, tín nữ tới đó để tìm sự cân bằng cho cuộc sống trong lĩnh vực tư tưởng, tâm hồn nhằm hướng đến cái thiện, tránh cái ác... nhưng cũng là nơi thờ cúng tiên hiền, hậu thánh, tiền, hậu khai khẩn, khai canh, chư vị thuỷ tổ các họ tộc, các vong linh không có người phụng thờ... của cả làng, cả vùng.
Các nhóm cư dân Việt đến định cư ở vùng đất dọc theo đôi bờ sông Thạch Hãn theo thời gian sớm muộn khác nhau, quá trình làm chủ vùng đất mới của người Việt được ngày càng khẳng định khi các thiết chế đình, chùa, đền miếu được thành lập. Trong một làng hể có đình, miếu để thờ cúng các vị thần thì tất phải có chùa; tuy xây dựng kiên cố hay đơn sơ nhưng tất cả đều trở thành một cơ sở tinh thần kiên cố, vững chắc che chở tâm hồn cho lớp người lưu tán; ở đó họ gửi gắm số phận mình trước những mối đe dọa vô hình trên vùng đất mới lập nghiệp. Đây có thể coi là lý do chính để các ngôi chùa ra đời.
Cho đến nay chúng tôi chưa có một tư liệu chính xác nào đề cập đến việc xây dựng các ngôi chùa dọc đôi bờ sông Thạch Hãn, chỉ biết rằng các yếu tố Phật giáo dân gian đã chiếm lĩnh trong đời sống tinh thần của người dân luôn tồn tại song hành cùng với việc hình thành và thiết lập các làng xã trên vùng đất mới, đa số các làng đều có chùa. Trước khi bị chiến tranh tàn phá, cũng như nhiều nơi khác, trên vùng đất dọc đôi bờ sông Thạch Hãn có nhiều ngôi chùa cổ được xây dựng từ khá sớm (từ những thế kỷ XV - XVI) với quy mô tương đối lớn. Các ngôi chùa này cơ bản là những ngôi chùa làng, thuộc dòng Phật giáo dân gian Đại Việt, với cách thờ “tiền Phật, hậu thần”. Yếu tố Phật giáo ở đây hoà quyện với các tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên… Trong đó đáng kể như: chùa Nhan Biều, chùa Linh Quang/Trung Kiên (xã Triệu Thượng); chùa Cổ thành, chùa An Tiêm, chùa Hồng Ân/Bích khê, chùa An Mô, chùa Vệ Nghĩa, chùa Thiên Tôn/ Đâu Kênh (xã Triệu Long); chùa Dương Lệ, chùa Linh Bữu /Võ Thuận (xã Triệu Thuận); chùa Gia Độ, chùa An Dạ, chùa An Lợi, chùa Khánh Liêm/Giáo Liêm, chùa Thanh Quang/ Thanh Liêm (xã Triệu Độ); chùa Lưỡng Kim, chùa Cao Sơn/ Cao Hy, chùa Vĩnh Quang/Vĩnh Lại (xã Triệu Phước); chùa Hà Tây, chùa Phú Hội, chùa Tường Vân (xã Triệu An); chùa Hà Lộc, chùa Long Hà (Thị trấn Cửa Việt); chùa Mai xá (xã Gio Mai); chùa Lập Thạch (phường Đông Lễ); chùa Lai Phước, chùa Vĩnh Phước (phường Đông Lương)… Bên cạnh đó còn có một số ngôi chùa thuộc các hệ phái Phật giáo chính thống nhưng rất ít, chỉ có chùa Sắc Tứ Tịnh Quang và chùa Long An.
Đặc biệt, tại vùng đất này có đến bốn ngôi chùa cổ được nhà nước phong kiến sắc tặng: Sắc tứ Tịnh Quang ở làng Ái Tử , chùa Thiên Tôn Quang ở làng Đâu Kênh, chùa Linh Quang ở làng Trung Kiên, chùa Linh Bữu ở làng Võ Thuận. Với sự có mặt hầu khắp các ngôi chùa ở các làng, cùng với những ngôi chùa được nhà nước phong kiến ban sắc, điều này chứng tỏ đây là nơi trung tâm, nơi phát tích của Phật giáo Quảng Trị để rồi cũng tại vùng đất này đã sản sinh và đóng góp cho Phật giáo cả nước nhiều hòa thượng, thượng tọa danh tiếng, có những người giữ chức vị trọng trách trong hàng giáo phẫm Phật giáo Việt Nam.
Qua thời gian, cùng với sự hủy diệt ác liệt của các cuộc chiến tranh, sự tàn phá khắc nghiệt của khí hậu, thiên tai nên tại vùng đất này hầu như không còn sót lại một ngôi chùa cổ nào. Từ những thập niên cuối của thế kỷ XX cho đến nay, các ngôi chùa làng ngày càng được kiến thiết xây dựng với quy mô bề thế và khang trang.
IV. 2. Kiến trúc chùa đôi bờ sông Thạch Hãn.
IV. 2. 1. Vị trí và cảnh quan, cách bố trí xây dựng chùa.
Nếu đình thường được xây cất ở nơi thuận tiện cho dân làng lui tới, thì chùa thường được thiết lập ở những khu đất cao, trên những gò, đồi rộng, trong không gian im ắng, tĩnh mịch. Những làng không có thế đất cao như cồn, đồi thì chùa thường cất ở giữa quãng đồng không để được thanh tịnh.
Xưa nay, việc chọn địa điểm để cất chùa luôn được người dân ở các làng xã vận dụng theo các quan niệm của thuật “phong thủy”. Tức là xây dựng chùa phải chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt. Đất tốt là mảnh đất thu giữ được khí thiêng của trời đất. Tức là đất phải cao, tươi nhuận đó là thế đất cây cối tốt lành, chim khôn vui hót, có dòng sông hoặc hồ ao trước mặt vì nước mát mẻ mang yếu tố âm, nơi tụ linh, tụ phúc. Mặt chùa thường quay hướng nam; đó là hướng bát nhã, trí tuệ, vì đạo Phật cho rằng có hiểu biết mới tránh được tội ác, hướng nam là hướng phát triển thiện tâm. Bên trái chùa hoặc trống không, hoặc có sông ngòi, ao hồ bao bọc. Núi ở bên phải cao dày, lớp lớp quay đầu lại, hoặc có hình hoa sen, tràng phướn, lọng báu hoặc có hình rồng, phượng, quy, xà chầu bái. Phía sau không có núi áp kề, thế là đất tốt. Để có ngày tốt, giờ tốt thì phải căn cứ vào cách tính của lịch can chi. Được như thế mới có thể hưng hiển được đạo pháp, người trụ trì nảy sinh trí tuệ, người thí chủ có công đức lớn, phúc ấm đến con cháu. Vì thế việc chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt để dựng chùa là rất quan trọng.
Người dân đôi bờ sông Thạch Hãn thường xây chùa quay theo hướng nam để đón gió nồm mát, tránh gió tây nóng. Nhưng cũng tùy địa hình cụ thể trong vùng mà chùa có thể được chọn để quay mặt về hướng tây - hướng nhìn về đất Phật thuộc xứ Tây Trúc, hoặc hướng Đông để người vào chùa là đi về phía đất Phật. Tuy nhiên, do điều kiện sống ven sông nên làng xóm của người dân cũng như các công trình kiến trúc đình làng, các ngôi chùa thường hướng mặt ra phía bờ sông, theo hướng nhà ở của dân làng.
Nằm trong không gian cảnh trí hữu tình lại được sắp xếp một cách có chủ ý nên mặt bằng của các ngôi chùa ở đôi bờ sông Thạch Hãn tuy có khác nhau ở một số chi tiết bố trí trong kiến trúc tổng thể nhưng nhìn chung là tương đối nhất quán. Từ ngoài vào, khuôn viên phân định bằng hệ thống tường rào và cổng chùa. Cổng chùa được xây dựng theo 2 dạng: cổng tam quan và cổng trụ. Lối kiến trúc cổng tam quan tương đối phổ biến ở các chùa có niên đại khởi tạo trước thế kỷ XVIII. Cổng tam quan là lối kiến trúc cổng gồm 3 cửa ra vào. Dù là kiểu xây dựng gạch vòm cuốn trên đó có gác vọng lâu hay chỉ bằng khung gỗ theo kiểu như một ngôi nhà 1 gian, 2 chái, phía trên lợp ngói; dù là được tạo thành bằng một hàng trụ biểu bằng gạch vươn lên chế ngự chiều cao không gian hay được biểu thị bằng những cọc, gỗ tre dựng tạm thì cũng theo hình 3 cửa, 3 lối, tất cả là sự biểu thị ba cách nhìn huyền diệu của nhà Phật về thế gian(2).Tam quan đối với mắt người thường chỉ là cổng vào chùa nhưng với con mắt nhà tu hành thì là ranh giới giữa cõi thiền và cõi tục, là ngưỡng của thiêng liêng, siêu thoát, là phương châm tu hành cho các tăng ni, đệ tử.
Qua khỏi tam quan là con đường “Nhất chính đạo” dẫn vào thế giới Phật; nơi đó có khoảng sân rộng giành cho các sinh hoạt Phật giáo định kỳ. Ngày nay, đa số các ngôi chùa được tu tạo, sửa sang lại thường hay cho xây thêm Đài Quán thế Âm Bồ Tát ở phía trước sân để thể hiện tinh thần ''cứu nạn cứu khổ'' của Phật giáo đối với dân chúng. Trong sân thường có những cây thiêng (đề, đại, sung, trúc...) để giúp cho Phật tử và tăng ni như cảm giác bước vào một thế giới khác, đầm ấm, trong sáng, nhiệm màu và khởi lòng thanh tịnh để thành kính hướng về cõi Phật.
Đi qua khoảng sân rộng lát gạch là đến công trình chính của ngôi chùa, tức là điện thờ Phật, dân gian quen gọi là ngôi nhà thờ Phật. Nhà thờ Phật gồm tiền đường, chính điện và hậu điện (hậu liêu). Trước đây, các ngôi chùa dọc đôi bờ sông Thạch Hãn có lối bố trí công trình kiến trúc điện thờ Phật tồn tại dưới 2 dạng:
Dạng thứ nhất: Chỉ có một điện thờ theo lối kiến trúc 3 gian, 2 chái, được bố trí theo chiều dọc, mặt tiền của ngôi điện mở ra từ gian chái. Kiểu này phổ biến ở các ngôi chùa làng theo dòng Phật giáo dân gian Đại Việt như cách dân gian thường gọi là "đình ngang, chùa dọc". Đối với những ngôi chùa dạng này, phần tiền đường được tính bao gồm không gian của gian chái và một gian phía trước; hai gian phía sau được xem là chính điện - nơi tập trung để thờ Phật; gian chái còn lại phía sau được sử dụng làm nơi thờ thần. Ngoài ra còn có một nhà ngang phía sau được sử dụng làm nơi ở của vị sư trụ trì hay là người được làng cử ra để coi sóc chùa. Đây là lối kiến trúc thuộc về các ngôi chùa mà theo chúng tôi có thời gian khởi tạo sớm (trước thế kỷ XVII).
Dạng thứ hai: Có từ một đến nhiều nếp nhà được bố trí theo chiều ngang. Kiểu kiến trúc này thuộc trong số các ngôi chùa theo hệ phái chính thống Thiền Lâm tế. Ngoài ra, một số niệm Phật đường ở các làng xã được khởi tạo muộn trong các thế kỷ XIX - XX và đến ngày nay cũng theo dạng này; ở các ngôi chùa chính thống của hệ phái Thiền Lâm tế, do quy mô, chức năng, tính chất thờ tự cũng như sinh hoạt của các tăng ni nên kiến trúc chùa là một thể phức hợp với nhiều công trình chứ không đơn giản như các ngôi chùa dân gian. Thường ở dạng này có 3 không gian rạch ròi: Chính điện dùng làm nơi tiến hành các nghi lễ của Phật giáo, nơi các nhà sư tiến hành kinh lễ và là nơi thờ Phật. Phía trước chính điện là tiền đường, nơi đây là chỗ các tăng ni ngồi tụng kinh niệm Phật, các tín đồ tới lễ Phật. Sau gian chính điện là gian hậu liêu - nơi thờ sư tổ, các vị sư trụ trì và các Phật tử ký tự. Ba không gian này có khi được phân bố trong 3 công trình kiến trúc nối liền nhau theo lối kiến trúc chữ tam; có khi chỉ được bố trí trong 2 công trình kiến trúc liền kề theo lối chữ nhị, hoặc tách ra thành 3 công trình tồn tại độc lập nhau.
Bên cạnh điện thờ Phật, trong một ngôi chùa còn có nhà ở của các vị sư trụ trì và các tăng ni. Trong khuôn viên của từng ngôi chùa thường có đầy đủ các ngôi chánh điện, nhà tăng, nhà bếp. Tuỳ từng điều kiện cho phép, người ta xây dựng bằng hệ thống các dãy nhà tách nhau bởi những lối đi hoặc cây cảnh, hay xây dựng khép kín liền kề nhau theo hình chữ khẩu, chữ công, chữ quốc, chữ điền. Ngoài ra, trong không gian ngôi chùa mang sắc thái hiện đại hiện nay (như: chùa Sắc Tứ Tịnh Quang, chùa Long An, chùa Giáo Liêm, chùa Vĩnh Lại, chùa Hà Tây, chùa làng Lập Thạch, Trung Chỉ, Lai Phước…), thường thì phía trước bao giờ cũng có gác chuông và đài Quán Thế Âm bồ tát. Đài Quán Thế Âm và gác chuông cũng rất được chú trọng bởi đó là những biểu tượng thiêng liêng của nhà Phật: tiếng chuông chùa càng vang xa bao nhiêu, tượng Quan Âm càng lớn bao nhiêu, đức từ bi của đức Phật và của Bồ Tát càng đến với chúng sinh nhiều bấy nhiêu.
IV. 2. 2. Những nét cơ bản về kiến trúc, trang trí mỹ thuật ở chùa.
Chùa dọc đôi bờ sông Thạch Hãn quy mô kiến trúc không lớn. Đa phần là những ngôi chùa làng. Do trải qua biến động xã hội và binh lửa chiến tranh nên hầu hết các ngôi chùa còn lại từ trước tới nay đã qua nhiều lần trùng tu hoặc xây mới hoàn toàn. Vì thế diện mạo các ngôi chùa gần như đã thay đổi, đặc biệt kể từ sau chiến tranh chống Mỹ cứu nước.
Nếu không kể các ngôi chùa sử dụng kỹ thuật chịu lực bằng bê tông, cốt thép được xây dựng hiện đại, thì trước khi chiến tranh, dù là chùa làng hay chùa của Giáo hội; dù chỉ một hoặc nhiều công trình, phân bố ngang hay dọc và dù tổng thể kiến trúc có chữ Công, chữ Đinh, chữ Nhất, hay chữ Nhị thì tất cả đều là những công trình được xây dựng theo một mô thức kiến trúc nhà rường, với lối sử dụng kết cấu của một bộ khung gỗ chịu lực được liên kết các bộ phận vài kèo lại với nhau; bên cạnh hệ thống vách ngăn bằng gỗ hoặc tường gạch và bộ mái lợp ngói hoặc tranh. Bộ khung gỗ chịu lực của kiến trúc chùa vùng ven sông Thạch Hãn với kết cấu kiểu vài phổ biến dưới hai dạng: vài chồng và vài luôn.
Trang trí nội thất các ngôi chùa dọc sông Thạch Hãn có phần khiêm nhường và chỉ tập trung vào kỹ thuật chạm khắc các bộ phận gỗ và cột bằng xi măng. Đề tài thể hiện không đi vào mô tả cuộc sống sinh hoạt của con người, mà mô típ trang trí chủ yếu thường bắt gặp là động thực vật, bát bửu... Đề tài động vật không chỉ giới hạn trong bộ "tứ linh" (long, lân, quy, phụng) mà còn các con vật khác như: dơi, cá, thỏ, hươu, nai.... Mỗi con vật đó là một biểu trưng và có ý nghĩa trừu tượng riêng. Những động vật này tùy theo vị trí kiến trúc mà nó được thể hiện nhiều hay ít, dưới dạng này hay dạng khác trong các ngôi chùa. Ở các mô típ trang trí thực vật nổi bật là các đề tài cây, hoa, lá, quả.... Về cây thì có các loại nằm trong "tứ quý" (mai, lan, cúc, trúc), "tứ thời" (mai, sen, cúc, tùng). Đề tài cây còn kết hợp với các thú tạo ra những tiểu cảnh như: “mai điểu” (mai với chim), “liên áp” (sen với vịt ), “tùng hạc” hay “tùng lộc”... Về hoa thường gặp các loại hoa: hoa đào, hoa mai, hoa cúc, hoa mẫu đơn.... Về quả có các loại: lựu, lê, đào… Các mô típ này được chạm trổ trên gỗ như ở các bức liên ba, các bức đố bảng, trên bụng những đòn tay.... Có khi thể hiện theo lối tả thực, lại có khi dưới dạng biến thể như hoa lá hóa rồng. Một loại mô típ trang trí khá phổ biến trong các chùa vùng Đông Hà đó là “bát bửu” (8 đồ quý). Có nhiều bộ “bát bửu” gắn với từng tín ngưỡng như “bát bửu” gắn với đạo Phật, đạo Lão, đạo Nho (3) ... nhưng được trang trí khắp nơi và được sử dụng hòa lẫn vào nhau chứ không tuân thủ theo các quy tắc nào cả, không phân biệt “bát bửu” nào riêng của đình hay của chùa. Sau bát bửu là hình ảnh mây mác - một mô típ khá độc đáo được xuất hiện ở tất cả các cầu điếu, kèo hàng hai... Trong không gian nội thất và ngoại thất của chùa ở đâu cũng thấy xuất hiện lối trang trí chữ Hán. Đó là những hoành phi, câu đối, bài kinh, thơ, phú... được gắn trên các cột, trụ cổng, tam quan, tường gạch với mục đích ca ngợi đức Phập đồng thời hướng con người vào việc thiện, tránh điều tà ác, xấu xa. Như câu đối ở chùa An Dạ:
Phật pháp tường minh đồng nhật nguyệt quang huy vạn cổ
Quốc gia vĩnh thịnh tịnh sơn hà tráng cố thiên thu
(Phép Phật sáng lạng mãi còn với đất trời muôn thuở
Nước nhà giàu mạnh vững vàng cùng sông núi nghìn thu)
Tại chùa Giáo Liêm và chùa Vĩnh Lại cũng có các câu đối:
Phạm vũ biến trang nghiêm nhật phóng trùng tân cảnh sắc
Liên đài thường xán lạn vân khai hiển hiện tường quang
(Nhà Phật bổng trang nghiêm, ngày mới càng tăng thêm cảnh sắc
Đài sen thường rực rỡ, mây lành hiển hiện cảnh sáng ngời)
Mộ cổ thần chung cảnh tỉnh trần gian danh lợi khách
Kinh thanh ngọc kệ hoán hồi khổ hải mộng mê nhân
(Sớm chuông tối mỏ thức tỉnh lợi danh giữa cỏi trần
Ngày đêm kinh kệ đổi dời giấc mộng bể khổ của con người)
Kỹ thuật trang trí bên trong các ngôi chùa thường sử dụng kỹ thuật chạm khắc ở các cấu kiện gỗ, vẽ sơn, bột màu lên tường, đắp vữa và ghép mảnh sành sứ lên các cột... để tạo ra không gian lung linh, huyền ảo của cõi Phật.
Các chùa có bộ mái với các bờ nóc và bờ giải đều cao to đè mép mái chắc chắn, được đắp vẻ trang trí rực rỡ làm cho nó nhẹ đi. Trên bờ nóc đắp "lưỡng long chầu nguyệt", "lưỡng long triều nhật" hay “lưỡng long chầu bánh xe luân hồi”. Trên các đường bờ giải của chùa được đắp hình lân, quy, phụng. Toàn bộ “tứ linh'' đều được đưa lên mái chùa, ở bốn góc đao của mái được đắp hình rồng, phụng.
Ngày xưa, các ngôi chùa làng cổ chỉ có một tầng mái. Các ngôi chùa của Giáo hội và những niệm Phật đường được sửa sang trong thế kỷ XIX hoặc được xây dựng trong thế kỷ XX và đặc biệt những ngôi chùa được xây dựng gần đây đều có cấu trúc 2 tầng mái theo kiểu ''cổ diêm”. Tại các đường cổ diêm này người ta gắn vào đó các mảng trang trí ô học chủ yếu đắp vôi vữa, sơn vẽ các mô típ hoa lá, động vật; đặc biệt, là các tiểu cảnh liên quan đến các tích Phật (4). Nhờ bộ mái kiểu hai tầng này mà chiều dài của mái từ trên nóc xuống có cảm giác ngắn lại, ngôi chùa sẽ cao, thoáng làm cho toàn bộ công trình thanh thoát hơn.
IV. 2. 3. Cách bố trí thờ tự trong chùa.
Nguyên xưa, tất cả các ngôi chùa làng dọc đôi bờ sông Thạch Hãn thường được phối trí thờ tự theo cách “tiền Phật, hậu Thần”, thường tiền đường thờ Phật và hậu điện thờ các vị thần linh của làng. Cách thờ tự này hiện nay vẫn còn một số chùa bảo lưu như: chùa Khánh Liêm (làng Giáo Liêm), chùa Dương Lệ, chùa Phúc Lộc…Điều đáng chú ý tại chùa Thanh Liêm cách bố trí thờ tự khá đặc biệt: gian giữa thờ Phật, 2 gian bên thờ 2 vị thủy tổ họ Nguyễn và họ Hoàng. Chùa Thiên Tôn Quang (làng Đâu Kênh), gian giữa thờ Ngọc Hoàng và Nam Tào, Bắc Đẩu, 2 gian kế bên thờ 5 vị thủy tổ họ Võ, Đoạn, Đổ, Lê, Nguyễn là các họ đồng khai khẩn của làng…
Hiện nay, bố trí thờ tự ở các ngôi chùa thường đơn giản và theo cách “tiền Phật, hậu Tổ”, phổ biến nhất là lối đặt tượng thờ gồm: ở giữa là tượng Thế tôn - Thích Ca Mâu Ni tọa thiền trên đài sen, hai bên tả hữu của phật điện là nơi thờ 2 vị Bồ tát là Quan Thế Âm và Địa Tạng. Quan Thế Âm được thể hiện dưới dạng một nữ thần đứng trên đài sen, tay cầm bình nước Cam lồ và cành dương liễu để cứu độ chúng sinh. Địa Tạng được thể hiện dưới dạng nam thần đầu đội mũ trụ, mặc áo cà sa, một tay cầm bảo châu, một tay cầm tích trượng, tượng trưng cho người có nhiều phép thuật, ứng hóa, chuyên cứu độ chúng sanh ở địa ngục và giúp họ ra khỏi đó với tấm lòng đại từ, đại bi, hóa độ chúng sanh. Phía trước còn có tượng Thích Ca sơ sinh (tức là tượng lúc Thích Ca mới giáng sinh đứng trên đài sen một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất ý nói rằng:Thiên thượng, địa hạ duy ngã độc tôn (nghĩa là trên trời, dưới đất chỉ có ta là đáng tôn thờ).
Phía sau của Phật điện là hậu điện nơi thờ sư tổ Bồ Đề Đạt Ma. Pho tượng này không lớn (thường chỉ bằng tranh vẽ), thể hiện dung mạo một người mũi cao, tóc quăn, râu quai nón. Ông là người ấn Độ, truyền đạo Phật sang Trung Hoa cổ đại, sau đó, môn phái này phát triển thành một giáo phái trong đạo Phật, gọi là Thiền Tông Trung Hoa mà ngài là sư tổ. Ngoài ra, còn có bàn thờ các vị sư khai sơn chùa, các vị trụ trì ở chùa và bàn thờ các vong linh mà đạo hữu gửi vào chùa, nhờ nhà chùa chăm sóc hương khói.
Tại gian tiền đường, hai bên tả hữu có hai pho tượng rất lớn tạc hình võ tướng mặc áo giáp đội mũ lục, trong có vẻ uy phong lẫm liệt, hoặc đứng, hoặc cưỡi trên hai con sấu đó là hai vị Tiêu Diện và Hộ Pháp, một ông khuyến thiện và một ông trừng ác; nên dân gian thường gọi là ông thiện và ông ác.
Trong khuôn viên của nhiều chùa còn có các miếu thờ các vị thần của làng: Miếu Tến sĩ họ Lê ở chùa Dương Lệ Văn, miếu Thành hoàng ở chùa Khánh Liêm…
Như vậy, có thể nói rằng cũng như chùa chiền Việt Nam nói chung, chùa miền Trung nói riêng, chùa dọc đôi bờ sông Thạch Hãn/Quảng Trị được xây dựng thống nhất trên tổng thể với lối kiến trúc không đơn độc mà là sự kết hợp giữa môi trường thiên nhiên và không gian nhân tạo, vừa là nơi thờ Phật, thờ Thần, vừa là nơi diễn ra các sinh hoạt văn hoá, tôn giáo làm cho ngôi chùa có nét khiêm nhường, trang nghiêm mà ấm cúng.
V. Nhà thờ Thiên chúa.
Nhà thờ Thiên Chúa là những công trình kiến trúc được xây dựng làm nơi sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng giáo dân theo đạo Thiên Chúa. Thông thường thì một giáo xứ/ xứ đạo thường có một đến vài nhà thờ. Cho dù quy mô kiến trúc to, nhỏ có khác nhau nhưng đó đều là những trung tâm sinh hoạt xã hội và đời sống tinh thần của các cộng đồng dân cư Thiên Chúa giáo. Nằm trong khu dân cư, chen mình giữa những xóm làng đông đúc hay khu đô thị và thường là nổi cao lên trên không gian bởi các đỉnh tháp gắn hình thập tự, nhà thờ luôn là nơi thiêng liêng nhưng bình dị và gần gũi đối với người dân xóm đạo. Không những thế, nó còn là hình ảnh thân quen trong đời sống người dân bởi tiếng chuông của giáo đường cứ ngân lên mỗi ngày.
Nhà thờ Thiên Chúa dọc theo đôi bờ sông Thạch Hãn có một lịch sử xây dựng và phát triển khá đặc thù, trong đó dấu ấn của sự cấm đạo thời phong kiến và hai cuộc chiến tranh chống Pháp, Mỹ là tác nhân quan trọng dẫn đến những thay đổi liên tục về thời gian tồn tại, quy mô, chất liệu, kiểu dáng công trình cũng như phong cách kiến trúc.
Cũng như nhiều công trình kiến trúc khác của người dân, từ khi ra đời cho đến hiện nay, các nhà thờ Thiên Chúa ở vùng đất này thường được xây dựng, sửa chữa. Giai đoạn giữa thế kỷ XVII, khi công cuộc truyền giáo mới chính thức được bắt đầu đến trước thế kỷ XX, tất cả các nhà thờ ở đôi bờ sông Thạch Hãn đã phải làm đi làm lại nhiều lần; bên cạnh lý do vật liệu thô sơ chóng hỏng cần phải sửa chữa, thì nguyên nhân chủ yếu là do chủ trương cấm đạo của nhà nước phong kiến Chúa và vua Nguyễn. Sang thế kỷ XX, khi Thiên Chúa giáo có điều kiện thuận lợi về mọi mặt để xây dựng nhà thờ và phát triển giáo dân, thì vùng đất này lại là chiến trường ác liệt, trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp (1945 - 1954) và chống Mỹ (1954 - 1975), đó chính là tác nhân dẫn đến sự huỷ hoại nghiêm trọng các nhà thờ Thiên Chúa, để rồi trên vùng đất Quảng Trị nói chung và đôi bờ sông Thạch Hãn nói riêng bất kỳ nhà thờ nào cũng phải được xây dựng, sửa chữa qua nhiều lần và không còn giữ lại quy mô kiến trúc ban đầu.
Hơn 20 năm sau ngày đất nước hoà bình với những khó khăn thiếu thốn về kinh tế, xã hội đã không cho phép nhà thờ ở hầu khắp cả vùng đất Quảng Trị phục hồi. Phần lớn các nhà thờ đều hoang tàn, đổ nát, một vài nơi được tu sửa tạm bợ để làm nơi hành lễ của các giáo dân, nhưng đa số bị xoá dấu vết hoàn toàn kể cả phần đất đai của nhà thờ có từ trước đó. Chỉ mãi đến những năm sau ngày chia tách tỉnh (1989), khi thực hiện công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước thì nhà thờ Thiên Chúa ở đôi bờ sông Thạch Hãn nói riêng và trên toàn bộ vùng đất Quảng Trị nói chung mới được xây cất, tu bổ và ngày càng thêm khang trang bề thế.
Đạo Thiên Chúa giáo được truyền bá vào Quảng Trị vào năm 1651, vùng đất đầu tiên cho đạo Thiên chúa bén rễ là Dinh Cát - Thủ phủ của Chúa Nguyễn lúc bắt đầu dựng nghiệp ở Đàng Trong. Linh mục Diego Ađuarte là vị cha cố đầu tiên đặt chân đến vùng này và được Chúa Nguyễn Phúc Nguyên tiếp kiến. Năm 1615, linh mục Phanxico Buzomi thuộc dòng Tên (dòng chúa Giêsu) từ Trung Quốc đến Dinh Cát dâng lễ lên Chúa Sãi. Nguyễn Phúc Nguyên đã ban cho linh mục một Chiếu chỉ cho phép ông tự do giảng đạo trên địa bàn từ Quảng Bình đến Phú Yên.
Nhưng công cuộc truyền bá, giảng đạo được phát triển mạnh được bắt đầu từ năm (1617- 1672), với sự hoạt động tích cực của các linh mục và những người giáo dân ưu tú đã cho ra đời các họ đạo đầu tiên ở Quảng Trị mà chủ yếu ở vùng Dinh Cát như: Họ đạo Trà Bát, họ đạo Bố Liêu, Dương Lệ… Tính đến cuối thế kỷ XVII nhiều họ đạo đã xuất hiện trong đó riêng xứ Dinh Cát đã có 37 họ đạo (5). Năm 1689, cha cố người Việt là linh mục Lân cho xây dựng nhà thờ xứ đầu tiên một cách khang trang đó là nhà thờ Dương Lệ. Sự ra đời các họ đạo đã thúc đẩy việc xây dựng nhà thờ Thiên Chúa để làm nơi hành lễ, giảng đạo ở khắp vùng dọc theo đôi bờ sông Thạch Hãn vào thế kỷ XVIII và tăng dần về mật độ vào thế kỷ XIX. Mặc dù chưa thể có đủ tài liệu chính xác về sự ra đời của tất cả các nhà thờ Thiên Chúa tại vùng đất này, nhưng có thể khẳng định đa số các nhà thờ ở đây đều được ra đời trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVIII - XIX như: Nhà thờ Bố Liêu, nhà thờ Đại Lộc, nhà thờ Dương Lộc, nhà thờ Đồng Giám, nhà thờ Giáo Liêm, nhà thờ Gia Độ, nhà thờ Nhu Lý, nhà thờ Thạch Hãn, nhà thờ Trí Bưu, nhà thờ An Đôn.... Cũng có một số nhà thờ được xây dựng vào những năm đầu của thế kỷ XX: nhà thờ Phước Môn, nhà thờ Tân Mỹ, nhà thờ Đá Nỗi …Tất cả các nhà thờ trên đều được xây dựng theo lối kiên cố bằng các vật liệu gỗ, gạch, ngói, vôi, xi măng và theo phong cách kiến trúc Roman của nhà thờ phương Tây. Quy mô kiến trúc gồm một thánh đường nằm theo chiều dọc, phía trước có gác chuông với diện tích khá lớn. Trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các nhà thờ trên đã bị hủy hoại hoàn toàn, hiện nay một số nhà thờ đã được xây lại khá quy mô và bề thế, đáng chú ý là nhà thờ Trí Bưu, Phước Môn, Bố Liêu, Dương Lệ… về cơ bản là không còn lại dấu ấn cũ mà đã được xây dựng mới theo phong cách mới hiện đại.
Theo truyền thống, đạo Thiên Chúa Giáo có rất nhiều ngày lễ: Giáng sinh, Phục sinh, Thăng thiên, Chư thánh, lễ các linh hồn, Đức Mẹ lên trời…Trong tình hình hiện nay, một số lễ đã được đơn giản hóa để phù hợp với đời sống của giáo dân. Riêng một số lễ quan trọng như: Giáng sinh, Phục sinh hàng năm vẫn được tổ chức. Việc thực hiện các bí tích như rửa tội, xưng tội đã trở thành phong tục của những người dân theo đạo Thiên Chúa.
Kiến trúc, giáo lý nghi lễ nhà thờ Thiên Chúa giáo dọc đôi bờ sông Thạch Hãn còn nhiều vấn đề cần phải đi sâu để tìm hiểu, nghiên cứu; qua đó góp phần nâng cao nhận thức về những vấn đề lịch sử văn hóa của vùng đất này. Cụ thể là về quá trình hình thành và các bước thăng trầm của đạo Thiên Chúa, từ đó tăng cường sự hiểu biết về vị trí, vai trò, ý nghĩa của các nhà Thờ Thiên Chúa trong đời sống tinh thần của người dân. Tạo ra những ảnh hưởng tích cực trong quần chúng nhân dân thông qua sự hiểu biết các giá trị di sản truyền thống để có ý thức tôn trọng, giữ gìn và phát huy trong cuộc sống hiện tại hướng đến tương lai. Đặc biệt, là tạo ra sự bình đẳng, tôn trọng các giá trị di sản văn hóa tôn giáo trong di sản văn hóa dân tộc, từ đó góp phần vào sự phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
VI. Nhà thờ họ.
Nhà thờ họ là công trình được xây dựng dùng làm nơi sinh hoạt tín ngưỡng của họ tộc. Đó là nơi thờ thuỷ tổ dòng họ và các vị thần linh thuộc đối tượng của hệ thống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nơi tổ chức các hoạt động cúng tế, hội họp của thành viên trong họ tộc vào các ngày giỗ, chạp, các ngày sóc vọng... và cũng chính là nơi thờ sắc phong, gia phả của dòng tộc.
VI. 1. Về lịch sử xây dựng.
Cũng giống như nhiều vùng đất khác trong tiến trình mở rộng về phía nam của tổ quốc, các dòng họ của người Việt sống dọc đôi bờ sông Thạch Hãn mang nhiều dáng vẻ và khá đa dạng. Đó là sự đa dạng về thời gian ra đời sớm muộn, về số lượng nhiều ít, quy mô to nhỏ, về sự chia tách, về sự tồn tại dài ngắn... khác nhau trong sự vận hành của lịch sử các dòng họ. Chính điều này đã làm cho các nhà thờ họ đa dạng về lịch sử xây dựng, lớn nhỏ về quy mô kiến trúc và hàm chứa bên trong lòng nó những tính chất, đặc điểm không giống nhau.
Sự khác nhau trong từng công trình kiến trúc nhà thờ họ có thể được nhận diện qua những nét khái quát sau:
Kiến trúc nhà thờ họ ra đời khi các dòng họ đã khá đông đúc, cần có một ngôi nhà chung để sinh hoạt tín ngưỡng và tổ chức những hoạt động liên quan đến gia tộc. Có thể suy đoán một cách có cơ sở rằng thời điểm hình thành sớm nhất của kiến trúc nhà thờ họ của cư dân dọc theo sông Thạch Hãn không thể có trước thời điểm ra đời của các đình làng. Sự xuất hiện, tồn tại của các kiến trúc nhà thờ họ ngoài việc bị chi phối bởi các tác động về tự nhiên, xã hội, lịch sử chung của cả cộng đồng còn bị lệ thuộc rất lớn vào sự phát triển nội tại của làng xã, họ mạc. Trong mỗi một làng đều có nhiều họ tộc, các họ có quá trình nhập cư vào làng sớm muộn khác nhau nên việc ra đời các nhà thờ họ mỗi họ một thời điểm. Vào những thời điểm xa xưa khi mới thành lập các làng ở vùng đất này, số lượng các dòng họ trong một làng lúc bấy giờ thường không nhiều chỉ có 3 hoặc 5 dòng họ, thậm chí chỉ có một dòng họ của những người đi mở đất được coi là tiền khai khẩn, khai canh; nên kiến trúc nhà thờ họ cũng rất ít. Nhưng vào những thời gian sau đó, số lượng dòng họ trong một làng ở đôi bờ sông Thạch Hãn ngày một nhiều thêm, cùng với sự tăng lên của kiến trúc nhà thờ họ do nhiều nguyên nhân: tách họ lớn ra làm nhiều họ nhỏ, có nhiều dòng họ từ nơi khác đến nhập cư.
Theo kết quả điều tra thực tế của chúng tôi tại các làng sống dọc theo đôi bờ sông Thạch Hãn cho thấy: trong các làng hiện nay không có làng nào chỉ có một hoặc hai dòng họ mà thường có 5 - 7 dòng họ, thậm chí 10 họ trở lên. Tùy vào dân đinh trong họ mà đặc biệt những dòng họ có có con cháu giàu có, làm ăn nên nỗi nên nhà thờ họ có quy mô lớn nhỏ, bề thế khác nhau. Đa số các nhà thờ họ ở vùng đất này đều được xây dựng lại sau chiến tranh với lối kiến trúc hiện đại, chỉ có một số ít mhà thờ họ vẫn bảo lưu được kiểu kiến trúc truyền thống.
Có thể nhận thấy qua một số dẫn liệu sau:
+ Làng Như Lệ (Hải Lệ) xưa kia có 7 họ chính: Lê, Ngô, Nguyễn, Đinh, Bùi, Phan, Hồ. Nhưng hiện nay trong làng đã có 14 họ, trong đó 12 họ đã có nhà thờ mới làm lại trong những năm gần đây: 2 họ Nguyễn, Nguyễn Văn, Đặng, Phan, Đinh, 2 họ Hồ, Ngô, Phạm, Đoạn, Trần; họ Lê khai khẩn và họ Bùi hiện vẫn chưa có nhà thờ.
+ Làng Trung Kiên (Triệu Thượng) có 2 họ chính: Nguyễn, Đặng; nhưng đến nay đã có 21 họ trong đó có 14 họ đã có nhà thờ .
+ Làng Hà Tây (Triệu An) có 4 họ tiền khai là: Dương, Lê, Hà, Phạm; ngày xưa, nhà thờ của 4 họ tiền khai được làm ở 4 phía của làng: phía Đông họ Dương, phía Bắc họ Hà, phía Tây họ Lê, phía Nam họ Phạm, trong chiến tranh các nhà thờ đã hư hại, hiện nay mới được xây dựng, nhà thờ họ Lê khá khang trang bề thế. Cho đến nay làng đã có đến 30 họ, đa số các họ đã có nhà thờ.
+ Làng Gia Độ (Triệu Độ) có 6 họ chính: Phạm, Nguyễn, Trần, Hồ, Hoàng, Lê tất cả các họ đều có nhà thờ; riêng nhà thờ họ Hoàng còn nguyên theo kiểu kiến trúc truyền thống được làm cánh đây hơn 150 năm; họ Phạm tiền khai đã đoản mạch từ lâu, tuy có nhà thờ riêng nhưng làng phải đứng ra lo việc tế tự.
+ Làng An Dạ có 7 họ chính: Trịnh, Phạm, Trương, Phan, Đinh, Lê, Đoạn; nhưng 4 họ Trịnh, Phạm, Trương, Phan đã không còn người thế tục ở làng từ lâu. Hiện nay làng có 3 nhà thờ họ và rất nhiều nhà thờ các chi phái. Nhà thờ họ Lê được làm cách đây hơn 100 năm và nay vẫn còn nguyên vẹn, với kết cấu của bộ khung gỗ nhà rường 1 gian 2 chái kép.
+ Làng Trung Chỉ gồm có 6 họ chính: Lê Văn, Trần Văn, Phạm Văn, Nguyễn Văn, Trịnh Văn, Bùi Văn. Trong đó chỉ có nhà thờ họ Lê Văn là còn nguyên theo kiểu truyền thống, ngôi nhà này được xây dựng cách ngày nay hơn 200 năm; các nhà thờ họ khác đều mới làm lại trong những năm gần đây.
+ Làng Vĩnh Phước có 3 họ chính: Nguyễn, Hồ, Đỗ có nhà thờ; nhưng hiện nay các nhà thờ họ đều mới làm lại…
VI. 2. Vài nét về quy mô, kiến trúc.
- Về quy mô: Trong một làng, có họ chỉ có một nhà thờ nhưng lại có họ có nhiều nhà thờ. Bởi vì, có khá nhiều dòng họ trong quá trình hình thành và phát triển đã tự tách ra thành nhiều họ, nhiều chi, phái nên từ một nhà thờ ban đầu về sau có nhiều nhà thờ họ, nhà thờ phái nhưng quy mô và chức năng kiến trúc vẫn không thay đổi.
Nhà thờ họ là một công trình kiến trúc được xây dựng bởi sự huy động tài lực của các thành viên trong họ mạc, nên do vị thế kinh tế khác nhau của từng dòng họ mà quyết định đến quy mô khác nhau của kiến trúc nhà thờ. Mặt khác, vị thế của từng dòng họ, vị thế của các cá nhân trong họ tộc ấy trước cộng đồng làng - nước là một yếu tố quan trọng chi phối một cách mạnh mẽ đến công trình kiến trúc nhà thờ. Tổ chức dòng họ bằng quyền lực và sự liên hệ sâu xa, đầy vẻ huyền bí đã ràng buộc, gắn kết các cá nhân và gia đình lại với nhau, giúp cho các cá nhân gia đình có chỗ đứng cao thấp, tiếng nói khác nhau trong cộng đồng xã hội. Nhiều dòng họ lớn, lâu đời và không ít dòng họ trong số đó đã được đề cao, nổi tiếng nhờ sự đỗ đạt, thành danh, cống hiến... của các thành viên trong dòng họ cho quê hương, cho đất nước. Việc xây dựng nhà thờ họ là trách nhiệm, nghĩa vụ của tất cả các thành viên để tỏ sự kính trọng tưởng nhớ đối với ông bà tổ tiên, tạo ra mối cộng cảm, sự liên kết thâm sâu, bền chặt về mặt tinh thần, nhưng đồng thời cũng để thị uy vai trò của họ mạc, vị thế cá nhân của các thành viên dòng họ ấy trước cộng đồng làng - nước.
Trải qua nhiều cuộc biến động về lịch sử, xã hội, nhất là sự huỷ hoại của chiến tranh nên nhìn chung, các kiến trúc nhà thờ họ truyền thống phần lớn đã bị hư hại. Trên toàn bộ các làng đôi bờ sông Thạch Hãn hiện nay có hàng trăm nhà thờ họ. Song đa số đều được xây dựng lại trong những năm của thập niên 80 - 90 của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI với một kiểu thức kiến trúc mới bằng bê tông, cốt thép là chủ yếu; những công trình nhà thờ họ được xây dựng trước đây còn lại không nhiều. Mặt khác, các ngôi nhà thờ họ hiện còn đều có niên đại sửa chữa, tu bổ nhiều hơn là niên đại khởi dựng. Vì thế, có thể khẳng định các nhà thờ họ còn tồn tại đến nay hầu hết đã qua trùng tu sửa chữa, thậm chí làm mới lại nên dù ít hay nhiều cũng đều có những thay đổi về kiến trúc, trang trí và không còn giữ nguyên dạng ban đầu.
- Về kiến trúc: Cũng như kiến trúc đình làng, kiến trúc nhà thờ họ dọc đôi bờ sôn Thạch Hãn xét về quy mô đều không lớn hơn nhà ở và không có sự khác biệt về kiến trúc; đó chỉ là một bước phát triển về một số phương diện của nhà ở dân gian để phù hợp với chức năng của mình. Dưới góc độ phân loại, có thể sắp xếp kiến trúc nhà thờ họ vùng này theo 2 dạng:
Một là loại kiến trúc chỉ gồm một ngôi nhà thờ bố trí theo chiều ngang hình chữ nhất, được xây dựng theo mô thức kiến trúc nhà rường 1 gian, 2 chái; hoặc theo mô thức kiến trúc nhà xông 3 gian, hai chái.
Hai là loại kiến trúc gồm hai nếp nhà song ngang bố trí theo lối chữ nhị, ngôi nhà trước gọi là tiền tế làm nơi tổ chức các cuộc hội họp, ăn uống, được xây dựng theo mô thức kiến trúc nhà xông 3 gian, hai chái; ngôi nhà sau gọi là hậu liêu làm nơi thờ cúng, được xây dựng theo mô thức kiến trúc nhà rường 1 gian, 2 chái; ngăn cách giữa hai nếp nhà là hệ thống cửa bản khoa. Mái sau của tiền tế và mái trước của hậu liêu được nối với nhau qua một máng xối thuần tuý.
Ở các công trình kiến trúc nhà thờ họ theo mô thức truyền thống, cấu trúc bộ khung không khác gì nhà ở dân gian. Tức là bộ khung gỗ chịu lực gồm nhiều chi tiết được liên kết với nhau bởi các bộ vài kèo ở các gian chính theo 2 dạng: vài chồng và vài luôn; song vài luôn là chủ yếu. Vài chồng và vài luôn cũng là 2 kiểu vài phổ biến nhất trong các đình, chùa ở Quảng Trị. Các bộ phận ở gian chái thường được kết cấu theo kiểu chái kép nhằm mục đích mở rộng lòng nhà.
Trên khung gỗ của ngôi nhà rường ở các nhà thờ họ, các bộ phận như trến, các tay kèo được tạo dáng theo kiểu “kèo cong, trếng lận”, kết hợp với kỹ thuật “lòng song, chỉ nổi”; nhất là tay kèo cù thường được tạo dáng rất công phu, đẹp mắt, đuôi cù thường được tạo bởi các hoạ tiết hoa văn hình đao mác, những đám mây hồi cố. Trên các con bạo là các hoạ tiết bát bửu, dây lá... Dưới bụng các cầu điếu được trang trí mô típ tam sơn, tam phúc, các đầu trến thường được trang trí dây lá hoá long.
Bên trong các ngôi nhà thờ họ, việc trang trí các hoành phi, liễn, đối viết bằng chữ Hán dưới đủ các dạng: hành, thảo, triện được khắc chìm (có khi đắp nổi) trên gỗ bằng nghệ thuật chạm trổ kết hợp kỹ thuật sơn son, thếp vàng tuy cũng giống như ở trong các kiến trúc đình làng; nhưng với mật độ dày đặc, nội dung phong phú và hình thức thể hiện đa dạng hơn với nội dung chủ yếu là ngợi ca công đức dựng xây của các vị thủy tổ, giáo dục con cháu kế nghiệp phải trân trọng và giữ gìn và ngày càng phát triển. Tại nhà thờ họ Lê làng An Dạ có 2 câu đối sơn son thiếp vàng trên gỗ lim được làm vào những năm 60 của thế kỷ XX:
Tổ triệu tôn bồi bách thế châu quang căn bổn tráng
Kim ba tích thọ thiên thu đường trúc diệp chi vinh.
( Tổ tiên gầy dựng, con cháu bồi đắp muôn thủa mãi còn rạng sáng
Ra tay tích thọ nghìn thu hậu thế hưởng vinh hoa)
Tại nhà thờ họ Lê làng Hà Tây có cặp câu đối nói về nơi phát tích, gốc gác của họ Lê, một trong 4 họ tiền khai của làng:
Phát tích Hoan Châu thiên tải thịnh
Khai canh niên tộc vạn niên vinh
( Phát tích Châu Hoan nghìn năm thịnh
Lê tộc khai phá mãi mãi vinh)
Mỗi nhà thờ họ được giới hạn trong một khuôn viên cụ thể, có cửa vào được xây dựng bằng trụ biểu hoặc nghi môn vòm cuốn, bên trên có gác vọng lâu, có quy cách gần giống như các đình làng, thậm chí còn quy mô, bề thế hơn nếu nhà thờ của dòng họ ấy có tiềm năng kinh tế dồi dào. Sau cổng bao giờ cũng có bình phong được đắp bằng gạch, xi măng, được trang trí bằng kỹ thuật đắp vữa, ghép mảnh sành sứ với các hình ảnh “long mã chở lạc thư”, “hổ phù miệng ngậm chữ thọ/ trân châu”...
Bộ mái kiến trúc nhà thờ họ ngày trước thường được lợp ngói liệt, sau thay bằng ngói móc. Trên các bờ dải, bờ nóc đều được trang trí bằng những hình ảnh của “tứ linh”, giao hồi văn, giao lá được được đắp bằng vôi vữa và ghép các mảnh sành sứ. Bờ nóc thường gắn “lưỡng long chầu nguyệt” hoặc chầu nhật, hổ phù hay bầu rượu; bờ dải gắn lân, phụng, rùa; đầu đao gắn giao hồi văn, giao lá.
Như vậy, so với nhà ở dân gian và đình làng thì kiến trúc nhà thờ họ có cùng một mẫu số chung về quy cách, kỹ thuật xây dựng. Tuy nhiên về quy mô, nhà thờ họ bằng hoặc nhỏ hơn đình làng và nhiều ngôi nhà ở dân gian vì nhà thờ họ thường chỉ 1 gian, 2 chái trong khi nhiều ngôi nhà ở và đình làng có 3 gian, 2 chái. Nhà thờ họ cũng như đình làng, đều giống nhà ở dân gian về trang trí trên bộ khung gỗ; nhưng khác với nhà ở dân gian về trang trí bộ mái và bố trí mặt bằng sử dụng... Đây cũng là một loại hình kiến trúc văn hoá truyền thống không thể thiếu trong cộng đồng dân cư.
Với vai trò, chức năng và những giá trị nghệ thuật được biểu hiện thông qua kiến trúc mà người dân đôi bờ sông Thạch Hãn đã dày công tạo lập từ bao đời nay - nhà thờ họ có thể coi là một di sản văn hoá truyền thống xứng đáng được trân trọng, giữ gìn.
VII. Đền miếu.
Đền, miếu là những công trình kiến trúc được xây cất để làm nơi thờ phụng các vị thần linh - nơi trú sở chính của các vị thần được cộng đồng nhân dân làng xã tôn vinh và cũng chính là nơi người dân thực hiện những nghi thức tế lễ liên quan đến sinh hoạt tín ngưỡng định kỳ của làng xã. Mỗi ngôi đền, miếu thường thờ một vị thần có thể là nhân thần hoặc nhiên thần, nhưng cũng có những ngôi đền miếu thờ hai hoặc nhiều vị thần theo cách “hiệp tự” và kèm theo nó là những nghi thức thờ phụng, tế lễ. Vì thế, quy mô kiến trúc của đền miếu cũng tuỳ thuộc vào tính chất, số lượng vị thần được thờ và cả những sinh hoạt tín ngưỡng của người dân.
Cũng như đình làng và nhà thờ họ, các kiến trúc đền miếu ở các làng dọc đôi bờ sông Thạch Hãn có quá trình hình thành và phát triển gắn bó hữu cơ với các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, xã hội, kinh tế... của các làng xã và gắn bó mật thiết với lịch sử, hình thành, phát triển nội tại của đời sống tâm linh cũng như các bước phát triển về cách thức, kỹ thuật và phong cách kiến trúc cổ truyền trên vùng đất .
Kiến trúc đền, miếu ra đời và phát triển xuất phát từ nhu cầu giải toả đời sống tâm linh nên nó phải có thời điểm xuất hiện sớm hơn so với đình, chùa, nhà thờ họ. Người Việt khi đến định cư ở vùng đất mới đã tiếp nhận những tín ngưỡng thờ cúng của người bản địa - người Chăm để tránh sự báo thù của thần thánh và đồng thời họ cũng xây dựng đền miếu để thờ cúng các vị thần mang tính truyền thống của chính người Việt mang đi từ đất tổ miền Bắc.
Theo chiều hướng phát triển về lịch sử, xã hội và kinh tế, đời sống nên sinh hoạt tín ngưỡng của người dân ngày càng đa dạng và phong phú hơn, từ đó kiến trúc đền miếu cũng thay đổi và đa dạng về số lượng, quy mô, cách thức kỹ thuật, vật liệu xây dựng. Trong mỗi một làng thường có nhiều vị thần được tôn vinh; đối tượng thờ và số lượng các vị thần cũng thay đổi nhiều hay ít tuỳ thuộc vào đời sống tâm linh của cộng đồng và tuỳ từng thời kỳ. Vì thế, số lượng kiến trúc đền miếu trong mỗi làng trên vùng đất dọc đôi bờ sông Thạch Hãn từ xưa tới nay thường không giống nhau và cũng biến động, thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, thường mỗi làng đều có từ 5 đến hàng chục ngôi miếu.
Dưới góc độ phân loại, có thể nhận diện các công trình kiến trúc đền miếu đôi bờ sông Thạch Hãn theo mấy dạng cơ bản sau:
1. Dạng kiến trúc đền miếu được xây dựng với một bộ khung gỗ chịu lực theo mô thức nhà rường nhưng quy mô nhỏ bé, quy cách đơn giản, được tạo theo kiểu nhà sàn, bên dưới có 4 cột. Đây là loại miếu thờ chỉ dành cho một vị thần; có phong cách cổ xưa, đậm tính truyền thống mang đặc thù của vùng Trị - Thiên, đây là loại miếu thờ có thời điểm xuất hiện sớm nhất (thế kỷ XV - XVI) và tồn tại phổ biến nhất.
2. Dạng kiến trúc đền miếu được xây dựng chỉ bằng các vật liệu gạch, đá được liên kết bằng vôi vữa theo mô thức trần vòm cuốn, mái cong như kiểu kiến trúc Bắc. Đây là loại miếu thờ chỉ dành cho từ một đến vài vị thần; có dáng dấp cổ kính nhưng thời gian ra đời muộn hơn (thế kỷ XVII - XIX) và thường ít phổ biến hơn.
3. Dạng kiến trúc đền miếu được xây dựng giống như một ngôi nhà thờ họ nhưng có phần nhỏ hơn, với một bộ khung gỗ chịu lực mang đầy đủ tất cả các chi tiết, bộ phận kiến trúc như mô thức một ngôi nhà rường 1 gian, 2 chái. Đây là loại miếu thờ dành cho nhiều vị thần; có tính truyền thống nhưng thời gian ra đời thường rất muộn (thế kỷ XIX - XX) và rất ít gặp trong các làng xã.
Trải qua nhiều cuộc biến động về lịch sử, xã hội, nhất là sự huỷ hoại của hai cuộc chiến tranh nên nhìn chung, các kiến trúc đền miếu trên vùng đất này phần lớn đã bị hư hại, tan nát. Những ngôi đền miếu hiện có trong các làng xã đều được tu bổ, sửa sang hoặc dựng mới lại trong những thập niên cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI với nhiều dạng kiến trúc khác nhau, tuy vậy số lượng chỉ còn chưa đầy một nữa so với trước đây. Đa số ở các làng người dân chỉ xây lại các ngôi miếu thờ: Thành hoàng, các vị tiền khai khẩn và một số miếu hiệp tự thờ chung tất cả các vị thần.
Đền miếu dưới dạng kiến trúc xây dựng với một bộ khung gỗ chịu lực theo mô thức nhà rường, được tạo theo kiểu nhà sàn, bên dưới có 4 cột - vốn là những ngôi đền miếu nguyên bản cổ xưa hiện còn rất ít ỏi. Hiện nay, dạng miếu trên chỉ còn lại: Miếu Thành hoàng làng Vệ Nghĩa - Triệu Long, miếu Thành hoàng làng Dương Lệ Văn - Triệu Thuận. Miếu thờ ngài Lê Văn Vạn làng An Lợi - Triệu Độ. Đặc biệt tại miếu Thành hoàng làng Dương Lệ Văn hiện còn bảo lưu được một số hoành phi, câu đối:
Đức đại an dân thiên cổ thịnh
Công cao hộ quốc vạn niên trường
(Đức lớn yên dân muôn thuở thịnh
Công cao giúp nước mãi còn ghi)
Miếu Thành hoàng và Bà Thủy làng Thanh Liêm - Triệu Độ, tuy có cấu trúc với một bộ khung gỗ chịu lực theo mô thức nhà rường, được tạo theo kiểu nhà sàn, bên dưới có 4 cột; nhưng có sự biến đổi một số nơi về cấu trúc do sự kết hợp, liên ghép hai ngôi miếu lại với nhau.
Nhiều năm qua, trong quá trình tôn tạo, xây dựng lại những ngôi đền miếu dưới dạng truyền thống rất ít được người dân quan tâm, duy chỉ có khu đền miếu làng Lập Thạch được xây dựng lại theo kiểu kiến trúc với bộ khung gỗ chịu lực theo mô thức nhà rường, được tạo theo kiểu nhà sàn, bên dưới có 4 cột khá đẹp. Đó là miếu Tiền khai họ Trần, miếu Hậu khai khẩn họ Nguyễn Khắc và 2 ngôi miếu thờ ngài họ Phạm và họ Nguyễn làm quan dưới thời phong kiến. Bên cạnh đó cũng có một số làng đã cố giữ lại kiểu dáng các ngôi miếu xưa nhưng tất cả đều được sử dụng nguyên vật liệu xi măng, bê tông, cốt thép để thay thế bộ khung gỗ nên kiến trúc nhìn rất thô cứng, điển hình như miếu tiến sĩ họ Lê làng Dương Lệ Văn.
Miếu thờ dưới dạng kiến trúc xây dựng chỉ bằng các vật liệu gạch, đá được liên kết bằng vôi vữa theo mô thức trần vòm cuốn, mái cong; một số làng vẫn tồn nguyên tuy đã xuống cấp nghiêm trọng điển hình như: miếu Ngũ hành, miếu thờ Bà Chúa Ngọc ở làng Tân Định - Triệu Long; miếu Tiền khai và Thành hoàng làng Trung Yên - Triệu Độ, miếu Đôi làng Duy Phiên - Triệu Phước; miếu Khai khẩn làng Dương Xuân - Triệu Phước; miếu Đôi, miếu Bổn thổ làng Hà Tây - Triệu An; miếu Thành hoàng và miếu Bà Giàng làng Tường Vân - Triệu An; miếu Thành hoàng, miếu Đôi (thờ Bà Thủy, Bà Hỏa) tại làng Tân Xuân - Gio Việt. Dạng miếu này ở nhiều làng qua thời gian và chiến tranh đã hư hại, hiện được sửa chữa theo lối cũ như khu đền miếu của làng Đâu Kênh - Triệu Long được xây dựng vào năm 2000.
Số đền miếu dưới dạng một ngôi nhà rường 1 gian, 2 chái với một bộ khung gỗ chịu lực có đầy đủ tất cả các chi tiết, bộ phận kiến trúc thì nhiều cái đã bị hư hại, hiện không thể tu tạo lại được; một số còn nguyên trạng nhưng đã có sửa chữa như: miếu Hiệp tự (Tự Nguyên Đường) làng Phương Ngạn - Triệu Long, ngoài hậu điện còn khá nguyên dạng như kiến trúc ban đầu thì người dân còn xây mới phần tiền đường vào năm 1995 .
Miếu Thành hoàng và Tiền khai khẩn làng An Lợi - Triệu Độ, là dạng miếu không phổ biến nhiều ở vùng đất Quảng Trị. Đây là ngôi miếu phối thờ chung 2 vị thần của làng, miếu gồm hai nếp nhà song ngang bố trí theo lối chữ nhị, tiền đường là một ngôi nhà xông ngang 3 gian, hậu liêu là một ngôi nhà rường 1 gian 2 chái với quy mô nhỏ. Đây là ngôi miếu còn sót lại qua hai cuộc chiến tranh.
Một dạng đền hiện tồn tại khá phổ biến ở các làng dưới dạng đền trần, có xây dựng các bệ thờ bằng xi măng, theo chúng tôi có lẽ được xuất hiện khá muộn sau này để thay thế các khu đất thiêng - nơi người dân dùng thờ cúng như: đền Âm hồn, đền Thần nông (đàn cầu chẹn).
Tóm lại: Đền, miếu dù to, hay nhỏ, dù được xây dựng sớm hay muộn và dù có những ưu điểm và nhược điểm ra sao thì trước sau nó vẫn là những công trình thờ cúng thần linh của những cộng đồng cư dân. Đền miếu chính là nơi tốt nhất để con người có thể giải toả những vấn đề tâm linh, tìm kiếm niềm tin, hy vọng và gửi gắm mong muốn của mình về những ước nguyện cho một cuộc sống bình yên, no đủ và hạnh phúc. Kiến trúc đền miếu luôn là một bộ phận không thể thiếu trong thiết chế văn hoá truyền thống; nó chính là di sản văn hoá đáng bảo tồn.
B. VĂN HÓA TINH THẦN.
Văn hóa tinh thần là sản phẫm văn hóa vô cùng quý báu, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học do con người tạo ra và xây dựng nên, thể hiện bản sắc của cả cộng đồng để rồi không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hóa tinh thần của các làng đôi bờ sông Thạch Hãn khá phong phú và đa dạng, đó là những phong tục tập quán, tín ngưỡng, quan niệm về thờ cúng, chuyện tích về các vị thần, lễ hội, trò chơi, các ngành nghề thủ công truyền thống…đều xuất phát từ thực tiển cuộc sống, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, ước muốn, tình cảm của người dân. Đây là những truyền thống tốt đẹp, thanh cao, quý giá, là nét tinh hoa đáng trân trọng nhất mà cha ông chúng ta để lại, lớp lớp con cháu mai sau cần có trách nhiệm giữ gìn.
I. Quan niệm về thờ cúng và chuyện tích các vị thần.
Thờ cúng tại các công trình tín ngưỡng, tôn giáo là hoạt động có ý thức của con người, là tổng thể phức hợp những yếu tố: Ý thức về các vị thần, biểu tượng về các vị thần và nghi lễ thờ cúng được đặt trong không gian thờ cúng.
Thờ là yếu tố thuộc ý thức về tín ngưỡng, là tâm linh, tình cảm của người dân trong làng hướng về cội nguồn, là sự thành kính biết ơn, tưởng nhớ đến các vị thần đó, nó thể hiện rõ đạo lý, lẽ sống của người Việt Nam “uống nước nhớ nguồn ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Qua việc thờ các vị thần phần nào cũng thể hiện niềm tin vào sự che chở, bảo hộ, trợ giúp của các vị thần cho con cháu trong làng tránh khỏi mọi tai ương và thuận lợi, may mắn trong cuộc sống. Cơ sở về sự hình thành ý thức thờ cúng các vị thần là niềm tin về các linh hồn bất tử, các vị thần dù được người dân huyền thoại hóa lên, hoặc đã chết từ lâu song linh hồn vẫn thường lui tới, vẫn ngự ở các ngôi đình, miếu và thường xuyên theo sát, giúp rập cho cả làng.
Cúng là yếu tố mang tín lễ nghi, là sự thực hiện hàng loạt động tác của dân làng, tất cả đều được ủy quyền cho người thờ cúng. Đó là các hoạt động dưới dạng hành lễ được quy định do quan niệm về phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng dân làng. Nghi lễ cúng được thực hiện bởi người đứng đầu cả tập thể làng, do dân làng bầu chọn gọi là ông Hội chủ. Đây là vị cao niên sống có uy tín, đức độ, có tầm hiểu biết so với cả cộng đồng dân làng. Trong các kỳ tế lễ Hội chủ là người chủ tế đứng ở gian thờ trang trọng nhất trong đình, miếu.
Thờ cúng là hai yếu tố tác động qua lại thống nhất với nhau trong tín ngưỡng thờ cúng các vị thần tại các làng. Việc thờ, tôn thờ chính là nội dung, còn hoạt động cúng là hình thức biểu đạt nội dung đó. Ý thức tôn thờ, thành kính, biết ơn, tưởng nhớ, hy vọng sự trợ giúp, tránh sự trừng phạt, quở trách của thần là nội dung cốt lõi của tín ngưỡng thờ cúng tại các làng. Nếu không có “thờ” mà chỉ có “cúng” thì tự bản thân tín ngưỡng sẽ không có “hồn thiêng” không có sức hấp dẫn nội tại và trở nên nhạt nhẽo, vô vị. Việc “cúng” tuy lễ vật to nhỏ về hình thức biểu đạt, song nó tôn vẽ linh thiêng, huyền bí, mờ ảo tạo nên sức hấp dẫn; nó chính là hương vị, màu sắc, là chất keo dín thỏa mãn niềm tin, đáp ứng nhu cầu về sinh hoạt tín ngưỡng của mọi người. Hình thức thờ cúng các vị thần lúc đầu chỉ thể hiện về ý thức, tâm nguyện của người dân về các vị thần bảo trợ, che chở cho cả làng nhưng về sau nó đã trở thành tập tục, tuyền thống mang bản sắc văn hóa và được truyền nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hai yếu tố thờ cúng nhiều khi không tách bạch rõ ràng, mà thường xuyên hổ trợ, bổ sung, tồn tại song song để làm thỏa mãn, ý nguyện, tâm linh của tất cả con dân trong làng.
Thờ cúng các vị thần vốn đã thiêng liêng, song để cho thần khác thường, thiêng liêng hơn nữa người dân ở các làng dọc đôi bờ sông Thạch Hãn còn thần thoại hóa các vị thần. Cùng song hành các ngôi đình, miếu để thờ phụng một cách trân trọng là sự cũng cố niềm tin bằng cách tạo ra các sự tích, các huyền thoại để giải quyết các vấn nạn nằm ngoài ý muốn chủ quan của người Việt. Hầu hết ở các làng đều có những huyền thoại đề cập đến các vấn đề lịch sử, văn hóa để phản ánh những tâm tư, nguyện vọng, ước muốncủa người dân. Những câu chuyện huyền thoại hay các chuyện cổ tích thần kỳ thường được xây dựng trên sự sáng tác của dân gian đầy tình tiết, hư cấu nghệ thuật “đó là sự tưởng tượng và hư cấu cổ tích dụa trên cơ sở hiện thực và phi hiện thực, ở đây cái có thực hoặc có thể có thực được kết hợp, hòa lẫn vào cái thần kỳ, hư ảo, không có thực tạo thành một thể thống nhất, làm nên một thế giới đặc biệt - thế giới của chuyện cổ tích” (6).
Một khía cạnh khác góp phần làm thiêng liêng thêm cho các vị thần đó chính là việc phong sắc cho thần. Việc phong sắc do nhà nước phong kiến quyết định. Sắc phong thường để nơi thờ cúng trang trọng nhất ở đình, miếu. Sắc phong vừa có tác dụng ca ngợi, tôn danh vị thần nhưng cũng có nghĩa là ca tụng nhà vua. Từ sắc phong mọi người dân trong làng thấy quyền uy của nhà vua ngự trị ở chổ thiêng liêng cao quý nhất của cả làng. Tùy công trạng của các vị thần mà sắc phong thường phân 3 thứ hạng: thượng đẳng thần, trung đẳng thần và tôn thần.
Ở các làng dọc đôi bờ sông Thạch Hãn theo chuyện tích hoặc tương truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thì có rất nhiều điều kỳ diệu, thiêng liêng về các vị thần, các ngôi đền miếu mà người dân thờ cúng, trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến những chuyện tích liên quan đến các vị Thủy thần - đó là các vị thần Sông, thần Biển:
- Miếu ở Thác Mệ (Làng Văn Vận - xã Hải Phúc): Trong Hoàng Việt Nhất thống dư địa chí có chép: “1900 tầm, hai bên bờ đều là núi cao chót vót, núi đá lởm chởm, đường sông ở đây vì nước chảy mạnh nên không thể đi được nữa. Đến xứ nước treo, tục gọi là Thác Bà, bên bờ Nan có một tảng đá đứng sừng sửng, trên bờ có một ngôi miếu thờ thần Dương Bà, thuyền bè qua lại thường vào miếu cầu đảo” (7). Theo tương truyền, ngày xưa dân cư phía thượng nguồn sông Thạch Hãn thuộc các xã Ba lòng, Hải Phúc, Triệu Nguyên, Mò Ó chủ yếu là dân tộc Vân Kiều, người Việt chỉ mới lên định cư thưa thớt. Lúc này giao thông đường bộ đi lại vô cùng khó khăn, người dân muốn ngược lên thượng nguồn chỉ bằng đường thủy, chủ yếu là thuyền buồm chèo bằng tay, dọc đường phải gặp nhiều khó khăn nhất là lúc vượt lên các ngọn thác. Thác Mệ (nay thuộc địa phận làng Văn Vận - xã Hải Phúc) và thác Cấu (nay thuộc địa phận Vạn Na Nẫm - xã Triệu Nguyên) ngăn sông Thạch Hãn làm thành 2 bậc nước cách nhau khoảng chừng 1 mét, nước chảy xiết. Muốn vượt lên 2 ngọn thác này thì phải cùng nhau xuống thuyền và dùng sức đẩy lên, đó là chưa kể những mùa mưa lũ tràn về càng gây thêm nhiều khó khăn, nguy hiểm cho thuyền bè qua lại. Có một nữ thương gia người họ Đặng làng An Tiêm - Triệu Thành chuyên xuôi ngược buôn bán trao đổi hàng hóa dọc đôi bờ sông Thạch Hãn, nhiều lần đi lại thuận lợi, làm ăn phát đạt đã phát tâm nguyện lập miếu thờ tại khu vực thác Mệ. Sau này bất cứ thuyền bè nào đi ngang khu vục này đều ghé lại cúng bái để cầu may. Qua năm tháng, ngôi miếu này nay đã không còn, nhưng chốn linh thiêng tại thác Mệ vẫn còn trong tâm thức những người khi có dịp xuôi ngược dòng Thạch Hãn.
- Chuyện tích về việc lập miếu“Trảo Trảo Phu Nhân”: Ngày xưa, khi Nguyễn Hoàng đóng dinh ở Ái Tử, có một đội quân nhà Mạc do dũng tướng Lập Bạo kéo vào đánh Ái Tử. Qua nhiều lần giao chiến mà không phân thắng bại, bèn hoản binh tìm kế sách. Một hôm, Chúa tiên Nguyễn Hoàng đang đóng binh ở bên bờ sông bổng nghe tiếng Trảo Trảo, chúa lấy làm lạ ra xem thì thấy tiếng sóng gió nỗi lên cuồn cuộn, bèn quỳ gối khấn: Thần sông linh thiêng thì cố giúp ta, ta đang bí nước. Đêm ấy Chúa nằm mơ thấy người đàn bà mặc áo xanh, sắc đẹp như tiên giáng trần đến gần Chúa và bảo: Người hãy dùng mỹ kế mới thắng được giặc. Chúa mừng rỡ vì thấy điềm lành. Hôm sau Chúa sai người hầu là Ngô Thị mang lễ vật và thư giảng hòa đến doanh trại của Lập Bạo, thấy Ngô Thị sắc đẹp mỹ miều lại liếc mắt đưa tình theo chiều lã lơi, Lập Bạo không kìm được mình bèn xuống thuyền đi theo và rơi vào trận địa mai phục của quân Chúa. Biết mình bị lừa, Lập Bạo liền nhảy xuống nước để thoát thân, nhưng khi lặn đến đâu y cũng bị con chim chài cá bay theo đến đó. Do bị kiệt sức Lập Bạo đã bị quân Nguyễn bắt được, quân nhà Mạc tan tác.
Để nhớ ơn vị thủy thần giúp đỡ, Chúa Nguyễn cho lập đền thờ tại làng Ái Tử và phong thần: Trảo Trảo Linh Thu Phổ Trạch Tướng Hựu Phu Nhân. Đời Gia Long liệt vào miếu Hội Đồng. Năm Minh Mạng thứ 5 gia tặng: Nhu Hoài Đoan ý Chiếu Linh Trợ Thuận Trai thục trung đẳng thần. Miếu đã bị hư hại trong chiến tranh chống Mỹ.
- Truyền thuyết về việc thờ cúng tại miếu ông Dài ông Cụt (làng Nhan Biều - Triệu Thượng): Xưa kia, tại làng Nhan Biều có một gia đình nông dân hiền lành, chăm chỉ làm ăn lại làm rất nhiều việc lương thiện, giúp đỡ mọi người, nhưng buồn một nỗi là không có con để nối dõi. Hai vợ chồng luôn cầu nguyện Trời, Phật, thần thánh cho họ có một đứa con, ít lâu sau người vợ có thai và sinh được một đôi Rắn. Hằng ngày khi người cha đi làm đồng hai con Rắn cứ bò theo sau. Một hôm khi đang chặt (phạng) cỏ ở ven bờ ruộng, người cha đã vô tình chặt đứt đuôi một con…Sau này khi hai con Rắn chết đã hiển linh phù hộ, trợ giúp cho dân làng gặp nhiều may mắn, tránh những tai ương, bất trắc trong cuộc sống. Từ đó, người dân đã lập miếu thờ và phong lên làm thần thánh. Hiện nay trong miếu phía trên án thờ có trang trí hình rồng cuộn và hai mộc chủ bằng chữ Hán: “Bổn thổ Chủ cảnh Long vương thượng đẳng thần”, “Bổn thổ Chủ cảnh Long vương tôn thần”. Mặt trước cổng trụ có các câu đối ca ngợi địa thế tọa lạc, sơn thủy hữu tình của ngôi miếu qua cách so sánh với hai thắng cảnh nỗi tiếng ở Trung Quốc:
Thiên tạo Đông Triều long ẩn tại
Địa truyền Nam Nhạc phượng phi cao.
Vế đối ở mặt sau của cổng trụ tôn các vị thần lên hàng hiển Thánh, vì đã có công bảo vệ, che chở, giúp rập cho cả làng, tránh mọi điều tai ương; chính vì lòng ngưỡng vọng về các vị thần nên nhân dân làng Nhan Biều đã tôn Ông Dài, Ông Cụt lên hàng tối cao (hàng thượng đẳng) trong hệ thống thần linh mà người dân thờ cúng:
Thần linh năng giải cứu
Thánh đế bảo an lân.
- Cũng thờ ông Dài ông Cụt nhưng tại xóm Triêu làng Cổ Thành - Triệu Thành lại có ngôi miếu Đôi. Theo truyền thuyết có một gia đình sinh một lúc hai người con trai, một người bình thường nhưng người kia bị tật nguyền không có chân. Sau khi hai người mất, đến ngày giỗ khu vực làng thường có giông tố, gió lốc kèm theo mưa lớn nhưng sau một thời gian ngắn lại biến mất, người dân cho rằng ông Dài, ông Cụt về ngự. Thấy linh thiêng dân làng liền lập miếu thờ và tôn làm thần. Chỉ tiếc rằng hiện nay trong miếu Đôi không còn mộc chủ hay các văn bằng gì liên quan đến hai vị thần trên, nhưng theo chúng tôi đây là những vị thần sông mà những người dân sống ven sông Thạch Hãn thường thờ cúng để cầu mưa thuận, gió hòa.
- Hoặc như chuyện tích lập Dinh Ông của làng Gia Độ - Triệu Độ: Ngày xưa sát tại khu vực ngã ba Gia Độ có một vực nước khá sâu, thường xuyên xuất hiện những con cá lớn và dài, khi chúng bơi nước sông rẽ thành nhiều đường sóng; loài cá này cũng được Dương Văn An nhắc đến trong Ô châu cận lục: “Bến Dã Độ tại làng Phù Ba huyện Hải Lăng. Từ nguồn Viên Kiều, Cảo Cảo đổ về, nước sâu rộng, có loài cá nhám ẩn ở đây…” (8). Người dân cho rằng thần Long vương xuất hiện và không ai dám đến khu vực này vì sợ ngài bắt gặp, dần dần khu đất sát bờ sông ngày một trở nên linh thiêng, huyền bí. Để giải quyết các vấn nạn về tâm lý và cũng cố niềm tin của con người vào cuộc sống hiện tại giúp dân làng yên ổn làm ăn, làng đã lập Dinh Ông để thờ cúng. Hằng năm vào ngày 7/1(âm lịch) dân làng thường tổ chức lễ hội đua thuyền tại khu vực gần Dinh Ông để cầu mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt bội thu…
- Sự tích về miếu Ông tại làng Phú Hội, miếu Am Bà, miếu Am Cố, miếu A Mông tại làng Hà Tây - Triệu An lại có cùng những câu chuyện như nhau: Ngày xưa khi làng mới đến sinh sống và lập làng tại khu vực này cuộc sống mưu sinh vô vàn khó khăn, trác trở. Một hôm có một con cá Ông (cá Voi) khi lụy (chết) đã trôi dạt vào bờ biển của làng, người dân đem về chôn cất, tôn lên làm thần và lập miếu thờ cúng. Từ đó trở đi, con cháu dân làng ra khơi gặp được nhiều may mắn, tránh được những tai ương, rủi ro của biển cả lại gặp những vụ mùa bội thu cá tôm đầy thuyền. Từ đó cho đến nay việc an táng và thờ cúng các loại các lớn khi lụy dạt vào bờ được người dân coi trọng và trở thành tục lệ của dân làng. Theo quy định, bất kỳ người dân nào của làng khi bắt gặp Ông lụy đều phải báo để tập thể dân làng lo tang lễ, người đầu tiên nhìn thấy Ông có trách nhiệm đứng ra làm trưởng nam chịu tang như con cháu thân nhân trong nhà và đó là điều may mắn, hạnh phúc, vinh dự của bản thân. Phú Hội và Hà Tây là các làng nằm phía hạ nguồn sông Thạch Hãn lại sát với biển Đông, cuộc sống của họ từ xưa đến nay chủ yếu phụ thuộc vào nghề đánh bắt thủy hải sản ở cửa sông và biển. Do vây, việc tôn thờ thần biển là điều đương nhiên và dễ hiểu. Thờ phụng cá Ông không chỉ được xem là sự tôn kính thần linh mà còn gắn liền với sự hưng thịnh, bình yên của làng cá. Bởi vì, người dân lúc nào cũng thấy cuộc sống của mình luôn lênh đênh trên biển cả bao la, lại đối mặt với bao bất trắc tai họa sóng to gió lớn nên họ tìm đến các vị thần dặc biệt là các vị thần biển để cầu mong sự may mắn, bình yên cho những chuyến xa khơi…
Việc đa dạng hóa trong thờ cúng ở các đình, miếu làng dọc đôi bờ sông Thạch Hãn phản ánh rõ về nhận thức và tâm lý của người dân, ở đây họ kết hợp một cách nhuần nhuyễn, khéo léo giữa tín ngưỡng nguyên thủy, Nho giáo và thờ cúng tổ tiên. Các vị thần được người dân lựa chọn để thờ cúng, ở mỗi vị đều có một mặt riêng của cuộc sống. Dù thần có sự tích được ban chức tước hay không được nhà nước phong kiến sắc phong thì vẫn là phúc thần, là thần bản mệnh của cả cộng đồng dân làng. Thần là kỳ vọng che chở, trợ giúp cho làng mình có cuộc sống tốt đẹp, yên ổn và hạnh phúc. Có thể nói làng xã của cư dân dọc đôi bờ sông Thạch Hãn tồn tại vững chắc hàng trăm năm nay là vì giữ được, giáo dục được truyền thống về làng mà các vị thần, những ngôi đình, đền miếu là biểu tượng, là thành tố tạo nên sự tốt đẹp đó “ Đời sống tâm linh là cái nền tảng vững chắc nhất trong mối quan hệ cộng đồng làng xã, thế giới tâm linh là thế giới của cái thiêng liêng, mà ở đó chỉ có cái gì cao cả, lương thiện và đẹp đẽ mới có thể vươn tới. Cả cộng đồng tôn thờ và cố kết nhau lại trên cơ sở của cái thiêng liêng ấy” (9).
II. Lễ hội.
II.1. Lễ hội cổ truyền.
Lễ hội cổ truyền của cư dân đôi bờ sông Thạch Hãn thường diễn ra vào mùa xuân và mùa thu “xuân thu nhị kỳ”, lễ hội lấy đơn vị làng mà thể hiện, lấy đình làng làm nơi diễn ra lễ hội. Nội dung lễ hội rất phong phú và đa dạng, thường phần lễ thiên về chức năng phục vụ thần linh diễn ra trước, hội là phần sống động dành cho người đang sống diễn ra sau hoặc cùng diễn ra một lúc, song mỗi hội đều hàm chứa riêng từng lễ và minh họa cho lễ đó.
Có thể nói lễ hội chính là những sinh hoạt văn hóa tinh thần của một cộng đồng dân cư được sáng tạo, hình thành trong quá trình sống, lao động và sinh hoạt. Mỗi lễ hội ở mỗi làng đều mang sắc thái riêng đậm đà tính địa phương, tính dân tộc. Trên địa bàn các làng xã dọc đôi bờ sông Thạch Hãn lễ hội thường chú trọng đến nghi thức tế lễ, từ việc nghinh rước các vị thần, đến tế lễ, các vật phẫm dâng hiến thần linh đều được thực hiện theo một quy ước chặt chẽ, nghiêm trang bằng cả tấm lòng thành kính, trân trọng của những người đến dự lễ. Sự thăng hoa về mặt tâm linh là nhu cầu có ý nghĩa, là mục đích tối quan trọng của lễ hội truyền thống. Từ đây người dân giải tỏa rất lớn về mặt tinh thần.
Lễ hội của cư dân đôi bờ sông Thạch Hãn luôn mang đậm tính lịch sử và nhân văn cao cả, đó là hình thức tôn vinh thành kính đến các vị thần làng, người có công khai sơn phá thạch hình thành xã tắc, đến những người có công với nước trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, xây dựng quê hương, các vị tổ sư các ngành nghề... Ðây là ý thức hướng về cội nguồn, là cái nền vững chắc nhất của cộng đồng làng xã. Các ngày giỗ của các vị thành hoàng đến ngày giỗ tổ tiên, dòng họ, người dân làng dù xa xôi vẫn về quê để dự lễ. Vì là một vùng quê chuyên sản xuất nông nghiệp, lại chịu tác động trực tiếp vô cùng nghiệt ngã của nắng, gió, lụt, bão nên lễ hội ở vùng đất này cũng chú trọng rất nhiều đến mặt này. Ðó là việc thờ cúng các vị thần sông nước như: thờ thần Long vương, cá Ông, bà Thuỷ, bà Hoả… Từ việc thờ cúng trên, nên lễ hội của cư dân đôi bờ sông Thạch Hãn thường diễn ra: hội đua thuyền bơi chải, hội đi săn, hội Cầu ngư...
Một nét rất bản địa trong lễ hội ở Quảng Trị là gắn việc trao đổi, giao lưu kinh tế - đó là chợ. Chợ ở đây không thuần tuý là trung tâm buôn bán, trao đổi. Chợ gắn với đình làng, với các hoạt động tín ngưỡng, tâm linh không chỉ diễn ra ở các kỳ lễ tết mà cả thường ngày. Chợ đình Bích La (Triệu Phong) diễn ra dù chỉ mấy giờ trong ngày đầu năm, nhưng cũng là nét đặc trưng riêng biệt. Người đi chợ không phải để mua bán mà cốt yếu cầu lộc, cầu phúc cho gia đình, bản thân, dòng họ...Ngoài ra các chợ còn thường nằm trước đình làng như: đình và chợ An Lợi, đình và chợ Hà Tây, đình Đại Lộc và chợ Hôm... hàng ngày thường diễn ra ồn ào, náo nhiệt càng tăng thêm hình ảnh thân thiết về ngôi đình làng trong tâm thức của người dân khi đi ngang qua đây. Hình ảnh “bến nước, mái đình, gốc đa, chợ làng” càng ăn sâu trong tâm khảm của người dân mỗi khi đi xa quê.
Tóm lại lễ hội của cư dân sống đôi bờ sông Thạch Hãn hàm chứa nhiều ý nghĩa cao cả, thiêng liêng chứ không chỉ phục vụ việc giải trí đơn thuần. Qua các lễ hội càng đề cao tinh thần thượng võ, ham tranh đấu lạc quan, yêu đời động viên mọi người rèn luyện tài năng ca ngợi thành quả lao động, sức sáng tạo của con người trong quá trình sống, lao động. Lễ hội diễn ra ở đình làng là mối quy tụ và kết tinh nhiều mặt hoạt động về văn hoá - xã hội - vật chất - tinh thần của cư dân địa phương đó.
Trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến một số lễ hội tiêu biểu của cư dân dọc đôi bờ sông Thạch Hãn.
II. 1.1. Hội săn làng Thượng Phước - Triệu Thượng.
II. 1.1. 1. Đôi nét về làng Thượng Phước.
Làng Thượng Phước nằm ở bờ Bắc sông Thạch Hãn, là một làng bán sơn địa thuộc xã Triệu Thượng - huyện Triệu Phong. Phía nam giáp sông Thạch Hãn, phía bắc giáp Nhan Biều, phía đông giáp làng An Đôn, phía tây giáp làng Tân Xuân. Theo lời kể của các vị cao niên, làng được thành lập từ sau khi Chúa tiên Nguyễn Hoàng vào dựng nghiệp ở vùng đất Thuận Hóa, cách này nay hơn 350 năm (thế thứ của họ Hồ - họ tiền khai khẩn đến nay đã 16 đời). Trước đây làng có tên là Thượng Phúc, sau này do kỵ huý tên của một vị thuỷ tổ nên đổi thành Thượng Phước. Thượng Phúc cũng là tên được Lê Quý Đôn chép trong “Phủ biên tạp lục”. Thượng Phúc/ Phước đều có chung một nghĩa cầu mong cho làng mình có nhiều may mắn tốt đẹp, phúc phần giàu có.
Gắn với quá trình hình thành làng là sự định cư lập thành họ mạc của những người Việt đặt chân đầu tiên lên mảnh đất Thượng Phước, công lao này thuộc về thủy tổ 4 họ: Hồ, Trần, Lê, Đoạn có gốc từ vùng Thanh Hóa, Nghệ An vào đây lập nghiệp. Tuy nhiên, những người thuộc thế hệ đầu tiên đặt chân đến mảnh đất này là vị thủy tổ họ Hồ. Những thời kỳ tiếp theo cho đến nay nhiều dòng họ đã nhập cư vào làng, đến nay làng có thêm họ Bùi, Ngô, Nguyễn, Lê, Hoàng. Cháu con của làng qua nhiều thế hệ vẫn đồng tâm hiệp lực, chịu khó, chịu khổ xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh.
Để tưởng nhớ công ơn của các vị tiền nhân, các thế hệ con cháu của làng Thượng Phước vẫn truyền lưu việc tế tự hàng năm, vào ngày 15/ 6 Âm lịch tế Đại tự cầu an tại đình làng, ngày 15/3 Âm lịch tổ chức lễ tế tại miếu ngài Tiền khai khẩn họ Hồ. Trước khi tế lễ tại miếu Tiền khai khẩn, vào 13, 14/ 3 làng Thượng Phước tổ chức Hội đi săn để tưởng nhớ công lao của các vị tiền bối đã lập nên hương hiệu, hình thành nên làng xóm và bảo vệ dân làng trong những ngày đầu gian khó.
II. 1.1. 2. Hội săn làng Thượng Phước.
Theo tương truyền, khi các vị thủy tổ của các dòng họ làng Thượng Phước đặt chân đến mảnh đất này thì đây là một vùng đồi lại nằm tiếp giáp với sông Thạch Hãn nên đất đai tươi tốt, cây cối um tùm, hoang vu, rậm rạp. Đây chính là giang sơn của các loài cầm thú, đặc biệt là các loài thú dữ như: cọp, gấu, beo…chúng đe dọa trực tiếp đến đời sống của dân làng và những súc vật nuôi của họ. Để đãm bảo cuộc sống cho dân làng ngoài việc tổ chức khai phá đất đồi để tăng gia sản xuất làm ra các sản phẫm như lúa, ngô, khoai, sắn…và chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm trợ giúp cho cuộc sống; các vị thủy tổ còn biết thành lập một nhóm thanh niên, trai tráng mạnh khỏe để dạy cho họ cách săn bắn thú rừng vừa bảo vệ an toàn cuộc sống, của cải cho người dân vừa góp phần cải thiện cuộc sống cho mọi người. Các cuộc đi săn đều được tổ chức đều đặn và chuẩn bị cẩn thận, kỷ lưỡng nên thường bắt được nhiều thú rừng; dần dần giảm bớt các hiểm họa thú rừng tấn công. Hội đi săn hình thành và phát triển trên cơ sở đó.
Sau này khi các vị thủy tổ lần lượt qua đời, đến ngày kỵ húy đặc biệt là ngày tế ngài khai khẩn họ Hồ 15/3 âm lịch hàng năm; ngoài việc dành hoa lợi của làng để chi cho lễ hội thì việc đi săn không thể thiếu trong đời sống của người dân Thượng Phước. Đây là một lễ hội để tưởng nhớ công lao vị khai khẩn - người đã có công lập làng và truyền dạy nghề săn bắt cho họ .
Vào ngày 13, 14/3 âm lịch, hội săn đã bắt đầu, tuy vậy, trước khi đi săn dân làng luôn bày lễ vật như hoa qủa, xôi gà để cúng thần linh và xin mở hội săn. Điềm tốt xấu sẽ được ứng quẻ vào đôi giò gà, để từ đó dân làng biết mà phòng tránh. Dụng cụ đi săn ngoài giáo, mác, lưới, cung tên vật không thể thiếu là những con chó đã được nuôi dạy cách săn bắt rất thành thạo. Bên cạnh đó có đầy đủ các loại nhạc cụ: trống, thanh la, mõ, để uy hiếp tinh thần thú rừng và tạo sự phấn khích cho các thợ săn.
Công việc chuẩn bị đi săn tổ chức rất kỷ lưỡng và chu đáo để tránh những tai họa xấu có thể xảy ra. Người đứng đầu hội săn phải là một người có vai vế, uy tín trong làng; lại phải là người có sức khỏe, mưu mẹo, khéo léo để xử lý các tình huống xảy ra; đây là người luôn đưa ra các tín hiệu đầu tiên để các tổ săn phối hợp, bao vây thú rừng, chủ yếu là tiếng thanh la. Trước khi đi săn, công việc nắm bắt, thăm dò quy luật đi lại, nơi trú ẩn của động vật; địa hình, địa vật địa điểm đặt lưới săn, bẩy thú là việc làm quan trọng và tối cần thiết. Công việc này cần có một tổ khoảng 4-5 người đảm nhiệm.
Khi các công việc chuẩn bị đã hoàn tất, đoàn đi săn bắt đầu lên đường, đến địa điểm phán đoán đã thăm dò từ trước, chỉ cần nghe hiệu lệnh tiếng thanh la phát ra từ người đứng đầu, đoàn đi săn phân ra từng nhóm khoảng 8 - 10 người để truy đuổi và bao vây con thú bằng cách dăng lưới, lưới đi săn của người dân được đan từ những sợi dây rừng có mây bện chặt lại dài hàng chục mét, nên có sức giữ chặt các loài thú kể cả các con thú lớn. Lúc này các chú chó săn mới phát huy tất cả năng lực, sự tinh nhạy của mình để đánh hơi, đuổi bắt, vồ mồi, nó là một phần quyết định thành công của các buổi đi săn. Khi đã lùa được con thú vào lưới vòng vây thêm một siết chặt, tiếng reo hò, tiếng trống, mõ vang dậy cả một góc trời. Những người đi săn xông vào hạ con thú bằng những lưỡi giáo mác nhọn sắc. Người phóng mũi mác đầu tiên trúng vào con thú sẽ hô vang “tiền” để được xếp công đầu, người thứ hai “hậu” để được xếp công thứ hai. Do có sự rèn luyện và phối hợp một cách tích cực nên trong các hội săn, dân làng Thượng Phước bao giờ cũng thu được kết quả cao và bảo đãm an toàn tính mạng cho con người.
Sau mỗi hội săn, dân làng lấy thủ cấp, bốn chân và bộ lòng con thú để cúng tế tại miếu khai khẩn; số còn lại sẽ được phân chia một cách công bằng, lưới của nhà nào bắt được con mồi thì được đưa về nhà đó để phân chia; những người có công thì được nhiều hơn một ít, tất cả dân làng mỗi người đều được một phần dù ít hay nhiều nhưng đó cũng là niềm vui cho cả cộng đồng. Các chú chó cũng được trao phần thưởng riêng của mình.
Hội săn làng Thượng Phước bao hàm nhiều ý nghĩa nhân văn cao cả, thông qua hội săn để giáo dục mỗi thành viên về ý thức đoàn kết cộng đồng trong đấu tranh và xây dựng, đề cao ý thức thượng võ; đồng thời nhắc nhở con cháu dân làng phải nhớ ơn các bậc tiền nhân, sống đúng đạo lý làm người “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kể trồng cây”.
Qua thời gian, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội; hội săn làng Thượng Phước giờ chỉ còn lại trong ký của nhiều người cao niên trong làng. Để bảo tồn phát huy các loại hình văn hóa phi vật thể như Hội săn làng Thượng Phước là một điều cần thiết và đáng lưu tâm không chỉ đối với con cháu dân làng mà cần có các cấp chính quyền, các ban nghành trong toàn tỉnh.
II. 1. 2. Lễ hội cầu ngư làng Phú Hội - Triệu An.
II. 1. 2.1 Đôi nét về làng Phú Hội.
Phú Hội là một làng vùng biển thuộc xã Triệu An - huyện Triệu Phong, nằm về phía bờ Nam sông Thạch Hãn. Phía nam giáp làng Hà Tây, phía bắc giáp sông Thạch Hãn và xóm Tuần của làng Hà Tây, phía tây giáp sông Cụt, phía đông giáp biển Đông.
Phú Hội là một làng hình thành khá muộn so với nhiều làng xã người Việt trên vùng bắc và nam Cửa Việt. Lúc mới thành lập làng có tên là Phường Mành - tên được gọi theo một loại ngư cụ đánh bắt cá nục ở trên biển. Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII làng có tên là Phụ Lũy (10). Phụ Lũy cũng là tên được Lê Quý Đôn chép trong “Phủ biên tạp lục”. Đến thế kỷ XIX, làng Phụ Lũy đổi thành Phó Hội (11). Việc làng đổi tên từ Phụ Lũy thành Phú Hội mang nhiều ý nghĩa: Đây là nơi hội tụ sự giàu có để trở thành nơi đô hội, sầm uất; có lẽ lúc này thương cảng Cửa Việt nói chung và tại nhánh sông Cụt trước mặt của làng đã trở thành nơi đô hội - một cảng thị trên sông, là trung tâm thương mại, nơi tấp nập những thuyền buôn bán ra vào neo đậu. Sau ngày đất nước thống nhất, Phó Hội đổi tên thành Phú Hội (1977).
Công lao khai khẩn dựng đặt hương hiệu để hình thành nên làng xóm trên mảnh đất làng Phú Hội thuộc về thủy tổ 4 họ: Đinh, Lê, Trần, Nguyễn có gốc từ vùng Thanh Hóa vào đây lập nghiệp. Tuy nhiên, những người thuộc thế hệ đầu tiên đặt chân đến mảnh đất này là vị thủy tổ họ Đinh (Gia phả họ Đinh đến nay đã 18 đời, họ Nguyễn 13 đời). Hai họ Trần, Lê thế tục ở làng không được bao lâu thì đoản mạch, hiện không còn người nối nghiệp. Những thời kỳ tiếp theo cho đến nay nhiều dòng họ đã nhập cư vào làng, đến nay làng có 13 họ. Cháu con của làng qua nhiều thế hệ vẫn đồng tâm hiệp lực, chịu khó, chịu khổ xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh.
Để tưởng nhớ công ơn của các vị tiền nhân, các thế hệ con cháu của làng Phú Hội vẫn truyền lưu việc tế tự hàng năm, vào ngày 15/ 6 Âm lịch tế Đại tự cầu an tại Đình làng, ngày 20/ 12 Âm lịch tế các họ không ai thờ tự tại Miếu Hiệp tự và đình làng, ngày 15/2 Âm lịch tổ chức lễ hội Cầu Ngư.
II.1. 2. 2. Lễ hội Cầu Ngư của làng Phú Hội.
Lễ hội Cầu Ngư của làng Phú Hội được diễn ra vào ngày 15 tháng 2 Âm lịch hàng năm. Đây là lễ hội lớn nhất, quan trọng nhất, là một hình thức sinh hoạt văn hóa, là sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển để rồi truyền lưu qua nhiều thế hệ. Lễ hội mang những nét độc đáo, riêng biệt của một làng nghề - nghề biển, mục đích lớn nhất của lễ hội là cầu quốc thái dân an; cầu lộc, cầu tài cho con em dân làng, cầu mưa thuận gió hòa với những chuyến xa khơi may mắn.
Lễ hội Cầu Ngư bắt nguồn từ câu chuyện tương truyền: Ngày xưa, có một con cá Ông (cá Voi) khi lụy (chết) trôi dạt vào bờ biển của làng, người dân đem về chôn cất, tôn lên làm thần lập miếu thờ cúng; từ đó trở đi các tàu thuyền con em trong làng khi ra khơi đánh cá đều gặp nhiều may mắn, tránh những tai ương, rủi ro của biển cả, lại gặp những vụ mùa bội thu tôm cá đầy thuyền. Từ đó trở đi việc an táng các loại cá lớn chủ yếu là cá Voi và cá Phớn khi lụy (chết) trôi dạt vào bờ được người dân coi trọng và trở thành tục lệ của dân làng Phú Hội. Theo quy định bất kỳ người dân nào của làng khi bắt gặp Ông lụy đều phải báo để làng đứng ra lo tang lễ, người đầu tiên thấy Ông phải đứng ra làm trưởng nam chịu tang như cháu con thân nhân trong gia đình và phải coi đó là điều may mắn, hạnh phúc, vinh dự của mình.
Thờ phụng cá Ông không chỉ được xem là sự tôn kính thần linh mà còn gắn liền với sự hưng thịnh, bình yên của làng cá. Bởi vì, người dân lúc nào cũng nhận thức được cuộc sống của mình luôn lênh đênh giữa biển cả bao la, lại đối mặt với nhiều bất trắc, tai họa sóng to gió lớn nên họ luôn tìm đến các vị thần đặc biệt là các vị thần biển, để cầu mong sự may mắn, cầu trời yên biển lặng, mưa thuận gió hòa, cá mực đầy khoang. Hiện nay, tại làng Phú Hội, Miếu Ông là nơi thờ tự tôn nghiêm các vị thần biển; phía trước có hơn 10 phần mộ đều có bia ghi rõ các loài cá và năm Ông lụy được dân làng đưa vào an táng. Cả Miếu và mộ đều quay mặt về hướng biển Đông.
a. Công việc chuẩn bị.
Lễ hội Cầu Ngư là lễ hội quan trọng nhất trong một năm của dân làng Phú Hội, đây là lễ hội đặc trưng mang tính nhân văn cao cả, lễ hội diễn ra trong tiết trời đầu xuân, đây cũng chính là lễ ra quân đánh bắt cá vụ nam (vụ chính trong năm) của ngư dân. Công việc chuẩn bị để tiến hành lễ hội hết sức cẩn thận và chu đáo. Từ việc chọn địa điểm để lập đàn cúng tế đến việc chọn thuyền rước thần, thành lập ban nghi lễ, lựa chọn phẫm vật dâng cúng đều được tính toán và sắp xếp một cách cẩn trọng, kỷ lưỡng để tránh xảy ra những sai sót, vì theo quan niệm việc sơ suất trong lễ hội đều đem đến điềm rũi ro trong năm cho mọi người. Tất cả đều được chuẩn bị trước ngày 14 tháng 2.
- Địa điểm dựng đàn tế lễ: Lễ hội Cầu Ngư cần làm gần Sông Cụt nên hàng năm dân làng Phú Hội thường chọn phía trước khu vực các ngôi miếu Thành hoàng, miếu Khai khẩn, miếu Hiệp tự (nay là khu vực nhà Mẫu giáo của làng), tại đây dân làng sẽ tiến hành dựng rạp, lập đàn tế lễ.
- Chọn Ban nghi lễ: Ban nghi lễ gồm các cụ cao niên hiền đức, sống có uy tín, đặc biệt trong năm gia đình không chịu tang chế. Chủ tế lại càng được lựa chọn cẩn trọng hơn, ngoài những tiêu chuẩn trên chủ tế phải là người hay chữ, hiểu biết các loại nghi lễ, phong tục tập quán của làng.
- Chọn thuyền để rước thần: Chọn thuyền rước thần là công việc quan trọng, trong số đội thuyến của làng ra khơi đánh cá phải chọn 3 chiếc tiêu biểu cho cả tập thể dân làng. Thuyền phải đẹp, phải bề thế, chủ thuyền phải có uy tín, là người hiểu biết và có thâm niên nghề biển, gia đình phải hòa thuận, hạnh phúc, con cái đề huề; đặc biệt năm vừa qua chiếc thuyền đó làm ăn gặp nhiều thuận lợi, được mùa tôm cá. Sau khi chọn được 3 chiếc thuyền tiêu biểu thì phải kết lại với nhau theo hàng ngang, sau đó dong cờ quạt trang trí và đặt bàn nghinh rước thần nước.
Ngoài việc chuẩn bị các công việc chung của cả làng, mọi người đều tổ chức làm vệ sinh đường sá, nhà nhà đều tổ chức cúng tế, các tàu thuyền đều kết đèn chăng hoa góp phần làm cho không khí lễ hội thêm náo nhiệt.
b. Cơ cấu lễ hội.
Lễ hội Cầu Ngư bao gồm 2 phần rõ rệt: Phần lễ và phần hội. Phần lễ thiên về chức năng phục vụ thần linh diễn ra trước, phần hội là phần sống động giành cho người đang sống diễn ra sau, song mỗi hội đều hàm chứa ý nghĩa của từng lễ và minh hoạ cho lễ đó.
* Phần lễ.
- Lễ cáo giang sơn: Vào 2 giờ sáng ngày 15 tháng 2, khi công việc chuẩn bị cho lễ hội đã hoàn tất, toàn thể Ban nghi lễ, các vị cao niên khăn áo chỉnh tề, cùng trai đinh trong làng tựu tề đông đủ tại đàn tế. Chủ tế cho nổi một hồi chiêng trống làm hiệu lệnh, sau đó khấn vái giang sơn và chư vị thần linh về chứng giám và dự lễ. Sau lễ cáo giang sơn Ban tế lễ cùng phường bát âm đến làm lễ nghinh rước bài vị Thành hoàng, thần Bổn thổ từ các miếu về an vị tại đàn tế.
- Lễ nghinh thần nước (lễ rước nước): Vào giờ hoàng đạo (khoảng từ 5- 7 giờ sáng) ông chủ tế cùng toàn bộ Ban tế lễ và phường bát âm lên 3 chiếc thuyền đã chuẩn bị sẳn dong thuyền ra cửa biển. Đến nơi, Chủ tế đọc bài khấn tế thần biển và xin rước thần vào dự lễ hội với dân làng. Cách rước thần ở làng Phú Hội rất gần gũi nhưng lại thiêng liêng: Chủ tế múc một bát nước biển (ở đó đã có thần an vị ) đặt lên bàn rước thần, đưa thần về đàn tế bên cạnh bài vị của các vị thần trong làng.
- Lễ tế: Sau khi nghinh rước đầy đủ các vị thần, Chủ tế bắt đầu nghi lễ quan trọng nhất đó là việc tế lễ. Chủ tế đọc bài văn khấn có nội dung cầu may mắn, hạnh phúc, cầu quốc thái dân an đến với mọi người, mọi nhà; Cầu mong các vị thần che chở, giúp rập cho cháu con của họ khi ra khơi đánh cá tránh được những tai ương, giận dữ của biển cả, lại được mùa tôm cá đầy thuyền…
Lễ vật trong buổi tế luôn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế trong năm của dân làng, ngoài trầm, trà, hoa, quả, hương đèn, cau trầu, rượi; nếu khá giả làng sẽ tổ chức tế bò, lợn, gà, vịt, bên cạnh luôn có các cổ xôi; nếu khó khăn thì chỉ có gà, vịt và một cổ xôi. Theo quan niệm gà, vịt là vật cúng không thể thiếu trong mâm lễ. Gà là con vật luôn thể hiện sức mạnh, sự nhạy cảm, nhanh nhẹn; sau lễ cúng các quẻ sẽ ứng vào chân gà, khi bói toán sẽ đoán được vận mệnh của làng trong năm. Vịt là con vật rất gần gũi với ngư dân làm nghề biển, luôn sống trên sông nước, bắt tôm, cá để kiếm sống.
- Lễ tất: Là bước cuối cùng sau khi hội đua thuyền, thi bắt vịt giữa sông Cụt kết thúc. Lúc này Chủ tế, Ban tế lễ nghinh thần nước và toàn bộ bài vị của các vị thần lên 3 chiếc thuyền, toàn thể dân làng lên những chiếc thuyền khác, tất cả hợp thành một đoàn thuyền hướng ra biển cả, đi đầu là thuyền rước các vị thần linh. Mục đích là rước các vị thần đi ngao du ngắm phong cảnh, xem tình hình biển cả để quyết định phò hộ cho dân làng may mắn trong năm nay. Đoàn thuyền thường đi dọc theo chiều dài của làng, sau đó quay về cửa biển để chủ tế đưa thần biển về an vị tại nơi đã làm lễ rước thần. Đoàn thuyền quay về tại đàn tế, Ban tế lễ, Vị chủ tế cùng toàn thể con cháu dân làng rước bài vị các vị thần về an vị tại trú sở của họ. Lúc nay lễ hội Cầu Ngư mới kết thúc trong sự hân hoan, vui vẻ của mọi người dân.
* Phần hội.
Bên cạnh phần lễ được tổ chức một cách trang trọng, thiêng liêng với những nghi thức tâm linh, là phần hồn của lễ Cầu Ngư; thì phần hội là phần không thể thiếu và được tổ chức một cách chặt chẻ, chu đáo với những trò chơi tiêu biểu: đua thuyền, thi bắt vịt giữa sông Cụt làm cho không khí thêm vui tươi, náo nhiệt. Đây là thời gian mà toàn thể dân làng được vui chơi, nghĩ ngơi, giải trí để xoá tan những lo âu vất vả trong cuộc sống mưu sinh, chuẩn bị một vụ đánh bắt mới đầy hứa hẹn. Trò chơi trong lễ hội cũng phần nào thắt chặt thêm mối đoàn kết, đề cao tinh thần thượng võ, động viên mọi người rèn luyện tài năng, sáng tạo trong lao động sản xuất.
- Hội đua thuyền.
Đua thuyền là trò chơi chính trong lễ hội Cầu Ngư của dân làng Phú Hội. Đây là trò chơi tập thể có sức thu hút lớn đối với người tham gia thi đấu và người xem. Cuộc đua diễn ra giữa 3 xóm của làng: xóm Trong, xóm Giữa và xóm Ngoài; bên cạnh đó làng còn mời thêm một số đội thuyền truyền thống của làng An Lợi, Hà Tây tham gia.
Sau khi đón tết nguyên đán, mỗi xóm cần chọn một chiếc thuyền trong số các thuyền thường đi biển đánh cá của xóm đó. Việc chọn thuyền cần dựa vào những yếu tố quan trọng: thuyền phải tốt, đẹp, năm vừa qua thuận buồn xuôi gió làm ăn gặp nhiều may mắn, thuận lợi, gia đình không có tang chế… Sau khi chọn được thuyền cần lau chùi sạch sẽ, đưa thuyền lên bờ phơi khô, có thể ghép thêm các mãnh ván ở đầu và đuôi thuyền để trang trí, thường được vẽ đầu rồng và đuôi rồng. Trước khi bước vào cuộc đua, chiếc thuyền được dân các xóm nâng niu, trân trọng, trong coi rất kỷ. Họ gữi tâm nguyện của mình qua nhiều lần cúng tế, cầu nguyện, mong cho thuyền xóm mình giành được giải trong cuộc đua, tránh những sơ suất và tối kỵ nhất là việc chìm thuyền; vì nó quyết định sự rũi may của ngư dân xóm đó.
Quân bơi cũng được lựa chọn kỷ càng, theo quy định của hội đua, quân số có thể từ 10 đến 12 người trong một đội thuyền, phải là nam giới tuổi từ 18 đến 40, có sức khỏe, có nghề sông biển giỏi. Mỗi thuyền đều có một người hoa tiêu, một người cầm lái, một người tát nước, 2 người cầm chèo và 6 người cầm chầm bơi. Trang phục trong một đội thuyền thì giống nhau, nhưng lại khác các đội bạn để dễ dàng phân biệt.
Địa điểm đua thuyền ở sông Cụt trước mặt của làng, có độ dài khoảng 1km; đường đua “3 vòng 6 tao”, ở hai đầu đều được cắm tiêu làm mốc. Trọng tài cuộc đua là các chức sắc và các cụ cao niên trong làng.
Trước khi vào cuộc đua, các thuyền đua và quân bơi phải tập trung ở vị trí mà làng quy định để sẳn sàng chờ lệnh. Một hồi trống nổi lên, trọng tài phất cờ lệnh, tiếng chiêng trống náo động, tất cả các quân bơi đều nhanh chóng nhảy vào thuyền của đội mình. Người cầm lái hướng mũi thuyền vào cuộc theo hiệu gõ, các tay bơi đều dồn hết sức lực vào mái chèo, mái chầm để đưa thuyền lướt sóng trong tiếng reo hò, cổ vũ của người xem. Các thuyền phải đi hết “3 vòng 6 tao” vòng qua 2 cột tiêu mới về đích. Thuyền về đầu tiên lại không phạm luật mới giành được giải.
Giải thưởng được trao cho đội về nhất, nhì và về ba; bên cạnh đó còn có giải phá - đây là giải cao nhất thường được trao cho một trong số các đội đua của làng. Tuy thắng hay thua các đội đua vẫn được dân làng rót rượu, tay bắt mặt mừng vui vẽ, sau đó cả làng mở tiệc khao quân, cuộc vui này kéo dài đến tận khuya mới chấm dứt.
Phần thưởng trao cho các giải cũng tùy thuộc vào kinh tế năm đó của làng, khi khá giả thì thưởng cả con bò, lợn bằng không cũng là tiếng khen; nhưng tất cả đều phải nổ lực, cố gắng vì đó là danh dự, là niềm tin của cả làng.
- Bắt vịt giữa sông Cụt.
Hội thi bắt vịt giữa sông Cụt là một trò chơi độc đáo và mang đậm bản sắc nghề nghiệp của ngư dân làng Phú Hội. Theo quan niệm của các ngư dân, vịt là con vật có cuộc sống gần gũi với những người làm nghề sông nước. Thi bắt vịt giữa sông cũng phản ánh tài năng của ngư dân, từ đó hướng mọi người đến sự rèn luyện tài năng, giúp họ vượt qua những tai ương, bất trắc khi lênh đênh trên biển cả.
Quy định của cuộc thi rất rõ ràng, làng sẽ thả 20 con vịt ra giữa sông Cụt, sau đó mọi người tự bơi ra giữa sông và cùng nhau bắt. Người tham dự cuộc thi không được dùng thuyền, hoặc lưới vây bắt mà chỉ dùng tay, có thể được bơi lội, hoặc lặn xuống sâu để bắt vịt. Ai bắt được con nào thì đó cũng chính là phần thưởng của mình do làng trao tặng. Hội thi bắt vịt vì thế mà không kém phần hấp dẫn và thu hút người xem.
Lễ hội Cầu Ngư của dân làng Phú Hội là một loại hình văn hóa dân gian của một làng nghề - nghề biển. Nó có nguồn gốc từ lâu đời và truyền lưu qua nhiều thế hệ. Đây là lễ hội mang hình thái sinh hoạt văn hóa cộng đồng, không mang tính huyền bí siêu nhiên mà thật gần gũi với đời sống của ngư dân. Lễ hội là nơi giao hòa giữa cõi thiêng và trần thế, giữa thần thánh và con người, giữa đạo và đời. Mục đích của lễ hội là tưởng nhớ công ơn của các bậc thần linh, các bậc tiền nhân đã có công lập làng, mỡ cỏi, truyền dạy lại nghề, giúp rập cho con cháu để mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho dân làng. Ngoài ra, lễ hội còn có vai trò lớn trong việc tích lũy, kế thừa và cũng cố sự đoàn kết, gắn bó cộng đồng ngày càng bền chặt. Để bảo tồn, phục hồi và phát huy các loại hình văn hóa phi vật thể như lễ hội Cầu Ngư không chỉ là nhu cầu cấp thiết đặt ra cho nhân dân làng Phú Hội mà cần sự quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện về mọi mặt của tất cả các cấp chính quyền, các ban nghành trong toàn tỉnh.
II. 2. Lễ hội cách mạng.
Thạch Hãn giang dòng sông trong xanh, hiền hoà, yên ả, là mạch nguồn sâu thẵm của người dân Quảng Trị qua suốt bao đời, đã phải oằn mình hứng chịu, chứng kiến không biết bao nổi gian lao, hy sinh, mất mát của quân và dân ta trong cuộc cuộc trường chinh chống giặc ngoại xâm gìn giữ đất nước. Đặc biệt là chiến dịch giải phóng Quảng Trị năm 1972 và 81 ngày đêm khói lữa; bờ Bắc sông Thạch Hãn là hậu phương chi viện cho quân và dân bờ Nam đánh địch tái chiếm để chốt giữ Thành Cổ; Có những ngày đêm chiến đấu ác liệt, bộ đội của ta phải hy sinh giữa dòng sông Thạch Hãn hàng trăm người, để rồi dòng sông Thạch Hãn phải thay mạch nguồn muôn đời xanh thẳm của mình sang màu máu đỏ, trở thành nơi hoá thân của các linh hồn bất tử đã xã thân vì nền độc lập dân tộc trên đường về cõi vĩnh hằng. Núi, sông, đất và người Quảng Trị tất cả hoà quyện vào nhau dệt thành bản anh hùng ca bất diệt mãi mãi ghi vào trang sử vẻ vang của dân tộc về tinh thần đấu tranh bảo vệ hoà bình bảo vệ tổ quốc.
Đò lên Thạch Hãn ơi…chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm.
(Lời người bên sông - Lê Bá Dương)
Năm tháng qua đi, dòng sông vẫn âm thầm làm việc hằng hữu của mình là mang nước và phù sa về bồi đắp cho những cánh đồng thêm màu mỡ, cho những vụ mùa bội thu. Nhưng mỗi khi ra Bắc hay vào Nam, khi đi ngang qua dòng Thạch Hãn, tất cả vẫn còn đó như nhắc nhở về một thời chiến tranh ác liệt mà mỗi dòng sông, mỗi tấc đất đều gắn với những chiến công hào hùng, thấm đẫm máu thịt, mồ hôi, nước mắt của người dân Quảng Trị nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam.
Sau ngày đất nước thống nhất, hàng năm cứ đến những ngày lễ lớn của tỉnh, của đất nước; chính quyền và nhân dân Quảng Trị thường tổ chức các lễ hội tri ân, tưởng nhớ những anh hùng đã ngã xuống vì nền độc lập tự do của nước nhà. Các hoạt động kỷ niệm đến nay đã trở thành những lễ hội văn hoá mang tầm quốc gia và khu vực, ngày càng mang ý nghĩa thiết thực: thả hoa, thả đèn hoa đăng trên sông Thạch Hãn vào ngày 27/7 và các ngày lễ lớn của đất nước; lúc giao hòa của thời khắc âm dương nỗi lên giữa làn nước trong xanh là hàng trăm bè hoa thơm ngát cùng hàng vạn ngọn nến lung linh trong lễ phóng đăng, đây là lễ hương vọng tưởng nhớ đến những đồng bào, chiến sỹ đã hy sinh cho cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương. Vào những ngày đó dòng sông Thạch Hãn bổng trở thành dòng sông hoa lữa, chốn linh thiêng in sâu trong tâm khảm mỗi người.
Bên cạnh các lễ hội được tổ chức hàng năm, thì các đài tưởng niệm, các di tích, công trình dân sinh, phúc lợi cũng được đầu tư xây dựng làm cho dòng sông ngày thêm hiền hoà, trù phú; tạo ấn tượng tốt đẹp đối với du khách khi đến thăm Quảng Trị, đặc biệt, là các cựu chiến binh mỗi khi hoài niệm về chiến trường xưa. Tất cả đó chính là lương tâm, là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của mỗi thế hệ hôm nay và mai sau trong việc thực hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.
III. Sông Thạch Hãn mạch nguồn sâu thẳm của những điệu hò dân gian.
Thơ, ca, hò, vè dân gian đôi bờ Thạch Hãn mà đặc biệt là hò Như Lệ được hình thành, đúc rút trong quá trình sống, lao động sản xuất, chiến đấu, dựng xây quê hương đất nước. Từ xưa đến nay thơ, ca, hò, vè dân gian với nhiều làn điệu và chủ đề phong phú, những câu từ mộc mạc, chân chất, nhưng đi sâu vào lòng người nên vẫn được lưu truyền từ đời này sang đời khác và sống mãi cùng năm tháng.
Thiếp gặp chàng giữa đàng bở ngỡ
Thiếp ngỡ chàng có vợ, chàng ngỡ thiếp có chồng
Ai hay con trai quá, con gái không
Chàng về thưa với thầy mẹ để cây tơ hồng xe duyên.
Ngó lên trời, trời cao lồng lộng
Ngó xuống dưới biển, biển rộng mênh mông
Cầu cho mưa tản gió nồng
Ngọn gió đông nam thổi lại cho Thiếp Chàng gặp nhau.
Thơ dưới gởi lên, thơ trên gởi xuống
Em đang ăn, đang uống bỏ đũa xem thơ
Xem thơ chưa được nữa tờ
Hai hàng lệ chảy ướt mờ trang thơ.
Mở lời chào bên nam mất lòng bên nữ
Chào người quân tử bỏ dạ thuyền quyên
Cho tui chào chung một tiếng kẻo chào riêng khó chào.
Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi
Chẳng thà không biết thì thôi
Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi tội tình.
Ngó lên trên trời sao băng trăng tỏ
Ngó xuống vạt cỏ lệ nhỏ sương sa
Vì ai nên chi thiếp ngái chàng xa
Đêm năm canh ngày sáu khắc không biết chan hoà cùng ai.
Đêm ơi hởi đêm trong đêm mau sáng
Ngày ơi hỡi ngày tắt quáng mau mau
Mong sao cho em ra khỏi cửa nhà giàu
Kẻo ăn cơm thừa cá cặn đớn đau trong lòng.
Lòng lại dặn lòng non bồng bể cạn
Dạ lại dặn dạ đá nát vàng phai
Trăm năm trúc mọc gần mai
Nợ duyên còn mãi không phai tấc lòng
Mẹ thương con ra ngồi cầu Ái Tử
Vợ trong chồng đứng núi vọng phu
Một mai bóng xế trăng lu
Nghe con ve kêu mùa hạ, biết mấy thu gặp chàng.
Nhà chàng ở phía Nam sông
Nhà thiếp phía Bắc cách dòng Hãn giang
Thuyền ai mát mái sang ngang
Cho chàng với thiếp đôi đàng gặp nhau.
Đêm qua mưa bụi gió lay
Gió rung cành bắc, gió lay cành vàng
Em với anh cùng ở một làng
Mà em chẳng biết ngõ chàng ở đâu
Một thương hai nhớ ba sầu
Cơm ăn chẳng đặng, ăn trầu ngậm hơi
Thương chàng nhiều lắm chàng ơi
Biết mô thanh vắng mà ngồi thở than.
Nước trăm khe chảy về sông Vịnh
Vì chăng trời định nên nước chảy vòng quanh
Đêm năm canh nghe con ve kêu vượn hú trên cành
Nhớ giọng hò xao xuyến chạnh lòng nhớ thương.
Em không tham ruộng mậu trâu đôi
Ruộng trâu bán lâu cũng hết
Em ham nơi xứng đũa vừa đôi
Khi đi cũng đẹp khi ngồi cũng cân….
Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; thơ, ca, hò, vè dân gian đôi bờ Thạch Hãn đã đóng vai trò quan trọng, động viên nhân dân đoàn kết sát cánh bên nhau chiến đấu giết giặc bảo vệ từng tấc đất của quê hương. Vừa sử dụng thơ ca, hò, vè dân gian làm công tác địch vận, kêu gọi những người con lầm đường lạc lối trở về với nhân dân với cách mạng. Làn điệu hò Như Lệ là biến điệu của hò mái nhì nhưng vang xa nhờ tiếng ngân vút cao, mạnh mẽ phát ra từ con tim yêu nước nồng nàn, độ rung cảm càng lớn càng làm xao xuyến, lung lay nhiều binh lính ngụy. Họ đã bỏ hàng ngủ địch để trở về với cách mạng, đó là sự hồi tâm, tỉnh ngộ nhờ tác động của tiếng hò, vè:
Anh theo Tây hoá ngây hoá dại
Anh theo Tây để phản lại gióng nòi
Đêm nằm nghĩ lại mà coi
Anh đi hướng đó chẳng thể rước voi đạp mồ
Anh đi theo Tây việc cấy cày em đành gác lại
Nuôi mẹ già con dại vất vã tấm thân
Sao anh không về mà lo liệu ăn mần
Em nghe giặc thua ở thượng Lào, trúc tàu Mỹ Chánh
Ê chết thiêu chết trụi không được toàn thân anh nờ
Bỏ súng xuống đi anh bà con đang mong đang đợi.
Sớm khuya mẹ già mòn mỏi theo anh
Mình còn tuổi trẻ đầu xanh
Làm người phải có nghĩa tình quê hương.
Hoà bình rồi sao anh còn đi mãi
Cha mẹ già trăm tuổi nay mai
Vợ hiền nét sắc tàn phai
Trẻ thơ mong đợi anh theo ai không về.
Tiếng hò Như Lệ là một nét độc đáo trong dân ca kháng chiến Quảng Trị. Nó là tiếng gọi thể hiện tình yêu quê hương, dân tộc, nhắc nhở đến tận cùng tâm tư sâu kín của mỗi con người. Trong đêm khuya, tiếng hò càng vang xa, càng đi sâu vào tâm khảm mọi người.
Trong thời kỳ chống Mỹ, sông Thạch Hãn càng gắn bó với những chiến công oanh liệt, được mệnh danh là “dòng sông hoa lửa” đã viết tiếp những trang sử vàng chói lọi, bằng xương bằng máu của các chiến sỹ cách mạng, chiến đấu bảo vệ thành cổ Quảng Trị trong chiến dịch 81 ngày đêm. Sông Thạch Hãn đã đi vào thơ ca cách mạng, đã và đang để lại dấu ấn không thể nào quên trong từng thế hệ người Quảng Trị, người Việt Nam và bạn bè quốc tế.
Đò lên Thạch Hãn ơi… chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm.
IV. Những làng nghề truyền thống.
Các ngành nghề thủ công của người Việt dọc đôi bờ sông Thạch Hãn đều có mặt rải rác ở các làng. Tuy chưa đủ điều kiện để hình thành một số làng nghề chuyên nghiệp nhưng các sản phẫm họ làm ra đều phong phú, đa dạng và phục vụ tốt cho nhu cầu của người dân địa phương.
Chợ Sãi có nem lụi nổi tiếng qua nhiều thời kỳ, được bán tại chổ và đưa đi khắp nơi trong địa bàn toàn tỉnh. Làng Phù Lưu từ xưa đến nay nổi tiếng với nghề bánh ướt, bánh bèo. Làng Giang Hến, làng Mai xá sinh sống bằng nghề cào hến chắt chắt dọc theo sông Thạch Hãn, về sau nhân dân Giang Hến còn mở các lò nung vôi hàu phục vụ cho các làng sản xuất nông nghiệp và xây dựng nhà cửa. Làng Gia Độ nổi tiếng với nghề mộc và điêu khắc trên gỗ. Nghề chằm nón, chằm tơi, đan lát, may vá… có nhiều khắp ở các làng nhưng nổi tiếng vẫn là làng Bố Liêu, Đâu Kênh. Làng Phương Ngạn đã bao đời phát triển nghề làm quạt giấy nổi tiếng một thời. Nghề ươm tơ, dệt vải phát triển ở rất nhiều làng: làng Lập Thạch, làng Dương Lệ, làng Phúc Lộc …nguyên liệu chính là sợi bông, tơ được sản xuất tại địa phương. Công cụ kỷ thuật chỉ là khung cửi cổ truyền; sản phẫm là các loại vải thô màu trắng sau đó nhuộm ra nhiều màu để người dân sử dụng. Làng Tân Định nổi tiếng với nghề trồng dâu nuôi tằm để sản xuất ra tơ lụa phục vụ cho những gia đình giàu có trong vùng. Làng Dương Xuân xã Triệu Phước, đã một thời nổi tiếng làm nghề sáo treo, sáo được làm bằng mây tre. Tre được chẻ nhỏ chuốt trơn, dùng mây bện thành từng tấm rộng 2,5m, cao 2m. Có những nghệ nhân tay nghề giỏi, chọn những mắt tre kết thành những hoa văn rất đẹp như: long, phụng, hạc, chữ vạn, thọ… hiện lên trên bức sáo vừa đẹp vừa có ý nghĩa. Sáo treo được nhiều người ưa chuộng, dùng treo ở giữa căn giữa bàn thờ tổ tiên trông thật ấm cúng và tôn nghiêm. Dương Xuân, Duy Phiên, Hà La, Lưỡng Kim những làng làm nghề muối; đặc biệt là Tường Vân nỗi tiếng với mấy trăm lò…
Qua nhiều thời kỳ với những biến động về kinh tế, xã hội mà đặc biệt đến ngày nay do nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển mạnh, hàng hóa phong phú, nhiều chủng loại và dể dàng thay thế; nên đa số các ngành nghề thủ công nổi tiếng vùng này đã biến mất trong đời sống kinh tế của người dân. Một số nghề hiện đang tồn tại và vẫn còn phát huy được trong nền kinh tế thị trường cũng đang đứng trước các cuộc cạnh tranh nghiệt ngã. Việc bảo tồn và khôi phục lại các làng nghề và nghề thủ công truyền thống là việc làm cần thiết nhưng lại vô cùng khó khăn, đòi hỏi có kế hoạch lâu dài, cần sự nỗ lực của các địa phương và toàn thể xã hội quan tâm.
VĂN HÓA NGƯỜI BRU - VÂN KIỀU.
Người Bru - Vân kiều sống ở thượng nguồn sông Thạch Hãn có nền văn hóa với các yếu tố được coi là mang tính bản địa, vì nó có quá trình phát sinh và phát triển nội tại gắn với lịch sử sinh thành của các tộc người. Do những tính chất đặc thù của điều kiện cư trú, hoàn cảnh kinh tế xã hội và ít có quan hệ giao lưu với các yếu tố mới của văn minh bên ngoài nên văn hóa của họ vẫn giữ được nhiều nét đặc trưng mang đậm bản sắc tộc người. Nhìn chung, người Bru - Vân kiều có trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội chậm phát triển.
Trên thực tế tại bốn xã Mò Ó, Ba Lòng, Hải Phúc, Triệu Nguyên chúng tôi đã tiến hành điều tra, nghiên cứu, 21 làng, bản; trong đó có 14 làng hiện do người Việt sinh sống, 7 bản của đồng bào dân tộc thiểu số Bru - Vân Kiều. Cho đến nay, chúng tôi chưa được tiếp cận một tư liệu thành văn nào ghi chép lại quá trình hình thành và phát triển của các làng, cũng như các công trình văn hóa, tín ngưỡng của người dân nơi đây. Nhưng theo lời kể của nhiều cụ cao niên trong các làng, bản thì vùng đất này vốn xưa kia là của người dân tộc thiểu số, họ tụ cư từ lâu đời và sinh sống bằng nghề làm nương rẫy ở hai bên sườn núi dọc bờ sông Thạch Hãn. Đến những năm đầu thế kỷ XVIII và trở về sau này, bởi nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan khác nhau mà người Việt đã bắt đầu tiến dần lên khai phá và tiếm cứ đất đai để từ đó hình thành nên các làng của người Việt, họ cùng sinh sống xen kẻ với người đồng bào dân tộc thiểu số.
Tổ chức làng bản: Do tính chất của cuộc sống du canh, du cư nên làng bản của người Bru - Vân Kiều thường sống phân tán và biệt lập, sống cách xa nhau. Trong tổ chức xã hội cổ truyền họ chỉ biết đến một tổ chức gần gũi của mình là: vil, vel - nó có nghĩa tương đương với một làng người Việt. Đặc trưng làng bản thường được bố trí theo hình tròn, tứ giác, chữ U, hình nan quạt nằm ven các triền sông suối. Trong một bản cách bố trí nhà ở đều bắt buộc hướng tới ngôi nhà chung của làng. Những bản không có ngôi nhà chung thì đều có một sân rộng - đây là nơi thường được tổ chức sinh hoạt, hội hè của cả bản làng.
Nhà ở: Nhà ở của người Bru - Vân Kiều là nhà sàn có hai mái tròn ở hai đầu hồi. Kỷ thuật cấu kết đơn giản với hình thức chủ yếu là xẽ ngoàm, lạt buộc. Vật liệu chủ yếu là gỗ, tre, mây, lá mây, lá cọ. Bên trên bộ mái ở hai đầu hồi tiếp giáp với đầu nóc có những hình trang trí bằng gỗ theo kiểu sừng trâu hoặc đôi chim. Ngoài ngôi nhà chính, mỗi nhà thường có một ngôi nhà nhỏ dựng ở ven rừng hoặc cận nương rẫy để chứa thóc và các loại lương thực khác.
Kiến trúc nhà ở của người Bru - Vân Kiều theo lối nhà sàn nhưng quy mô nhỏ, ngắn và hẹp, đây là nơi dành riêng cho từng gia đình. Bên trong ngôi nhà từ phải sang trái bố trí theo trật tự: buồng đầu tiên là chổ tiếp khách, góc trong có gian thờ ma bên trên có bàn thờ. Tiếp đến là các buồng ở được sắp xếp theo thứ tự: người già, vợ chồng, con cái. Cuối cùng là gian để đồ đạc. Mỗi buồng thường cách nhau một tấm liếp bằng tre, có lối ra vào nhưng không có cửa. Trong nhà thường có một bếp dùng để nấu nướng và một bếp phụ ở gian khách dùng để sưởi ấm về mùa đông.
Tín ngưỡng tôn giáo: Nhận thức về thế giới của người Bru - Vân Kiều thể hiện thông qua quan niệm “vạn vật hữu linh”. Tín ngưỡng thờ cúng mang đậm dấu vết tô tem giáo. Tất cả mọi vật, mọi hiện tượng tự nhiên cũng như trong cuộc sống đối với người Bru - Vân Kiều điều trở thành vật thiêng và thờ cúng được. Những thần linh mà người dân ở đây tôn thờ phổ biến nhất vẫn là thần núi, thần sông, thần đất, thần cây, thần rừng, thần lữa, thần mặt trời. Nhưng quan trọng nhất với người Vân kiều là thần lúa và thần của cải. Các thần linh đều có vật để ký thác: đó là các hòn đá có những hình thù được thờ cúng ở các ngôi nhà chung hay ở các ngôi miếu thờ trong rừng mà mỗi năm đều được cúng tế bằng trâu, dê. Nghi thức thờ thần lữa và bếp lữa thường thể hiện qua kiêng cữ như: không cho người lạ vào lấy lữa từ bếp của mình ra ngoài; khi tộc trưởng lên nhà mới phải đốt lữa, nhóm bếp để cháy liên tục trong 3 ngày đêm; trong hôn nhân nhà trai làm lễ bắc bếp, nhà gái làm lễ đập bếp. Việc thờ cúng thần lúa do người đàn bà đứng đầu gia đình chủ trì.
Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng được người Vân Kiều coi trọng, sau khi người chết vài ba năm, người ta làm chay và đưa linh hồn người chết vào một nhà thờ nhỏ, trên sàn của người chết được tượng trưng bằng một bộ đồ thờ gồm một mảnh bát, một mảnh nồi, một ống gạo, một ống nước và một gói cơm. Những người chết được xếp theo thứ tự kẻ trên người dưới và từ phải sang trái. Mỗi gia đình đều có một bàn thờ riêng để thờ cúng người thân của mình.
Ngoài thờ cúng tổ tiên, người Vân kiều còn có hình thức thờ bổn mệnh. Theo hình thức thờ cúng này mỗi thành viên trong gia đình thường được tượng trung bằng một cái bát để thờ cúng. Những cái bát này được tập hợp trên một bàn thờ nhỏ dựng ở cột chính ngôi nhà. Mỗi khi có một người trong nhà đau ốm, chiếc bát bổn mệnh sẽ được mang ra để cúng cầu nguyện thần linh cho hết bệnh tật.
Lễ hội: Từ quan niệm thờ cúng nêu trên nên lễ hội của người Vân kiều nhìn chung đều liên quan đến các đối tượng thần được thờ. Tuy nhiên, nghi lễ nông nghiệp vẫn điển hình nhất trong lễ hội của người Vân kiều. Lễ cúng thần lúa được tổ chức vào các dịp: phát rẫy, trỉa hạt, tuốt lúa, mừng lúa mới. Lễ trỉa hạt được đồng bào coi trọng nhất, vào hội mỗi gia đình cử ra một người đem hạt lúa giống của gia đình mình đến để làm lễ. Trong khi mọi người đeo gùi đi xung quanh mãnh đất gieo hạt, thì già làng cầm một cái nia, trong đó đựng một ít thóc giống vừa nhún nhảy như người sảy thóc vừa khấn vái để gọi hồn lúa về phù hộ cho dân bản được mùa. Các trò diễn trong lễ hội của đồng bào ít phong phú, chủ yếu chỉ tập trung vào hội đâm trâu.
Lễ hội đâm trâu hay còn gọi là lễ “ăn trâu” nhằm vào thời điểm hoàn thành việc thu hoạch mùa vụ trên nương rẫy hay đi vào vụ sản xuất mới. Lễ có nguồn gốc từ tục hiến sinh cầu mùa xa xưa, phổ biến trong cư dân nông nghiệp. Lễ đâm trâu không chỉ mang ý nghĩa cầu mùa mà ngày càng được mở rộng trong sinh hoạt tín ngưỡng. Lễ hội đâm trâu của Bru - Vân Kiều với mục đích để cúng Yàng, thần núi, thần sông và ông bà tổ tiên, ăn mừng mùa màng bội thu, cầu mong cho bản làng ăn nên làm ra, sức khoẻ, hạnh phúc. Theo tục lệ của đồng bào thì cứ 5 đến 10 năm tổ chức lễ hội đâm trâu một lần. Đây là lễ hội thu hút nhiều người tham gia tạo ra không khí náo nhiệt, sôi động, đoàn kết trong cộng đồng. Lễ thường được tổ chức vào tháng 2 hoặc tháng 3 trong năm, ngoài việc tạ ơn thần linh, tổ tiên ông bà thì đây cũng là dịp để tạo ra mối đoàn kết gắn bó trong cộng đồng.
Công tác chuẩn bị lễ hội được đồng bào tiến hành rất công phu, và theo từng nội dung cụ thể, thường trước đó khoảng từ 5-10 ngày. Đầu tiên, già làng thông báo cho toàn dân biết để chuẩn bị trâu và các lễ vật khác. Trong lễ hội con trâu được coi là “vật thiêng” đồng thời còn biểu tượng cho sự giàu sang, phú quý nên được lựa chọn rất cẩn thận. Trang trí, lựa chọn cột đâm trâu là khâu cầu kỳ và tốn nhiều công sức nhất, một số thanh niên được cử vào rừng chọn cây làm cột đâm trâu, cột đâm trâu phải được làm bằng thân cây bông gòn già, được chạm khắc nhiều hoa văn. Cây nêu được làm bằng tre, có chiều dài khoảng từ 10 - 15 cm, có đường kính khoảng 20 cm, được đẻo nhọn gọt nhẵn cắm vào cột đâm trâu, cây nêu được trang trí rất đẹp, những thân tre được chẻ dọc từ góc đến ngọn, uốn thành hình cầu tượng trưng cho mặt trời, các cành rũ xuống như hình xương cá và bông lúa tượng trưng cho mùa màng bội thu, nương rẫy tốt tươi. Tất cả đều mang một ý nghĩa cầu mong thần linh phù hộ, che chở cho bản làng được hạnh phúc, an vui.
Bên cạnh đó đồng bào còn chuẩn bị những thủ tục cần thiết như dọn dẹp nhà cửa, nồi bát, ché rượu... để phục vụ cho quá trình ăn uống, những dụng cụ như chiêng, trống, thanh la, kèn để phục vụ cho sinh hoạt lễ hội.
Lễ hội đâm trâu được diễn ra đúng giờ quy định, sau khi buộc trâu ở sân làng, lễ hội bắt đầu. Theo như tục lệ, lễ cúng tế được tiến hành trong thời gian một buổi. Các lễ vật dùng để cúng là lợn, gà, gạo, một bát dùng đựng vỏ cây đốt hoặc trầm, tất cả được đặt trong một cái mâm, chủ làng tạ ơn, cầu khấn thần linh cho làng mình nhiều điều tốt đẹp trong năm mới. Sau khi cúng xong, chủ làng lấy cây kiệu ném vào đầu trâu, tiếp đó là các chủ họ. Cây kiệu ném vào đầu trâu theo quan niệm là để gọi Yàng xuống nhận lễ. Khi các thủ tục được hoàn tất, chủ làng sẽ cử ra một thanh niên to khoẻ dùng mác dài đâm vào cổ con trâu cho đến chết. Phần đầu và thịt trâu được nấu chín và cúng Yàng thêm một lần nữa, sau đó mọi người cùng vui chơi ăn uống, nhảy múa quanh đống lửa, trong tiếng chiêng, tiếng trống, không khí đầm ấm vui tươi báo hiệu những điều tốt đẹp sẽ đến trong những ngày tới.
Lễ hội đâm trâu là nét sinh hoạt văn hoá cổ truyền, độc đáo của người Vân kiều, qua lễ hội nêu cao tinh thần thượng võ, tinh thần đoàn kết cộng đồng, ý thức tương trợ giúp đỡ lẫn nhau; đồng thời là nơi trao đổi kinh nghiệm trong việc làm ăn kinh tế, lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống.
* *
*
Thạch Hãn giang đã đi vào huyền thoại, đi vào lòng người vì đã gắn liền với lịch sử, văn hóa, truyền thống quê hương, đất nước. Con sông là biểu tượng của sự trong sạch, ý chí kiên cường, nhẫn nại, chịu thương, chụi khó, giàu đức tính dũng cảm và sáng tạo. Sông là chốn linh thiêng, là khí thiêng sông núi, là long mạch phát tích và hội tụ, nơi chuyển tải, truyền lưu các giá trị lịch sử, văn hóa từ ngàn đời để tạo ra một vùng văn hóa mang đậm bản sắc. Sông là đại diện, là cốt cách tâm hồn, nhân phẫm của con người Quảng Trị.
Nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị văn hóa, lịch sử gắn bó với địa danh “Non Mai - Sông Hãn” để giúp cho mọi người hiểu biết một cách đầy đủ hơn về sông, núi, đất và người Quảng Trị trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm giành độc lập và xây dựng, kiến tạo quê hương. Từ đó, nâng cao nhận thức cho người dân về việc gìn giữ những giá trị văn hóa tiến bộ, những truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng, truyền thống nhân ái, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, truyền thống cần cù sáng tạo của người dân Quảng Trị; tạo niềm tự hào, niềm tin và động lực cho nhân dân ta tiếp tục phát huy nội lực, phấn đấu xây dựng quê hương ngày càng đổi mới và phát triển, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Chú thích và tài liệu tham khảo.
(1). Yến Thọ. Bước phát triển trong cấu trúc nhà Rường. Văn hóa Quảng Trị, số 5/1993, trang 41.
(2). Theo quan niệm của nhà Phật Tam quan là 3 lối nhìn: không quan, giả quan và trung quan. Không quan là lối nhìn về lẽ không. Giả quan là lối nhìn về lẽ sắc. Trung quan là không phải không cũng không phải giả mà là con đường của đạo dẫn đến giải thoát. Nếu nhìn theo không quan là “không tức thị sắc”. Nếu nhìn theo giả quan thì “sắc tức thị không”; nếu nhìn nhận cả 2 thì đi vào trung quan. Đây là tượng trưng cho sự ngộ của chân lý sắc sắc, không không, tức là có thể đi đến con đường trí tuệ, đến với Phật. Tam quan báo hiệu bước vào một cảnh chùa cụ thể mà cũng là bước vào một triết lý tu Phật. Tam quan (3 cửa) đó là cửa giới (giữ trọn những giới luật), cửa định (kiên định theo đường tu Phật), cửa tuệ (tu phải trí tuệ, sáng suốt). Hoặc có thể Tam quan là khổ, vô thường, vô ngã. Khổ là cuộc đời đầy những nỗi khổ. Vô thường là muôn vật biến đổi không ngừng, trong đó nổi khổ cũng biến đi. Vô ngã là không có cái tôi, tồn tại chỉ là chốc lát. Những quan điểm trên đây thể hiện ra không quan, có nghĩa là bản thể vật chất bắt nguồn từ không. Với ý nghĩa như vậy, nên chỉ có cổng chùa mới gọi tam quan.
(3). Bộ Bát bửu đạo Lão gồm: Cái quạt của Chung Ly Quyền hay Hán Chung Ly. Cái gậy tre của Trương Lão Qua và cặp roi. Cái ống tiêu của Hàn Trương Tử. Cái bầu rượu của Lý Thiết Quài. Thanh gươm của Tào Quốc Cưu hay cặp sanh. Đôi dép của Lữ Đồng Tân. Giỏ hoa của Lâm Thái Hoà. Đoá hoa sen của Hà Tiên Cô.
- Bộ bát bửu của đạo Phật gồm: Bánh xe có lửa (bánh xe luân hồi). Cái tù và. Cái lọng. Cái táng. Cái hoa sen. Cái độc bình. Đôi cá. Cái nút thắt.
- Bộ Bát bửu của đạo Nho gồm: Cái bầu rượu. Cái quạt. Cái gươm. Cái đàn (đàn tranh, đàn nguyệt, đàn tỳ bà). Thảo sách. Tháp viết. Quyển sách. Phất trần.
(4). Các tích Phật: Thích Ca sơ sinh đứng trên đài sen: Đức Phật lúc mới sinh tên là Thái tử Kosala akya Siddhrtha (Thích ca Tất Đạt Đa), sinh vào lúc mặt trời mới mọc ngày trăng tròn tháng 2 Ấn Độ khoảng năm 563 trước Tây lịch. Theo truyền thống và tục lệ Ấn Độ, đến ngày sinh nở, hoàng hậu Mada trở về nhà mẹ để để sinh, khi qua vườn Lâm tỳ ni của vua Thiện Giác thì sinh ngài dưới gốc cây vô ưu. Khi mới sinh ngài đứng trên hoa sen, 1 tay chỉ lên trời, tay kia chỉ xuống đất, ý nói rằng: Thiên thượng, địa hạ duy ngã độc tôn (nghĩa là trên trời, dưới đất chỉ có ta là đáng tôn thờ).
Thái tử cưỡi ngựa rời cung điện xuất gia tu hành: Sau một buổi tiệc linh đình trong cung điện, ngài đã cưỡi ngựa Kiến trắc vượt thành xuất gia cùng với một hầu cận trung thành.
Đức Phật tọa thiền dưới gốc cây bồ đề và nguyện: “Ta ngồi dưới cây này nếu không đạt được đạo thì dù xương tan thịt nát cũng không rời khỏi đây”, sau 49 ngày đêm tọa thiền ngài đã đắc đạo.
(5). Ban khoa học và kỷ thuật tỉnh Quảng Trị. Địa Chí tỉnh Quảng Trị. Bản thảo đánh máy, năm 1993, trang 266.
(6). Lê Đức Thọ. Văn hóa Champa ở Quảng Trị di tích và huyền thoại. Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử. Bộ giáo dục và đào tạo, trường Đại học khoa học Huế. Huế 2001, trang 170.
(7). Lê Quang Định. Hoàng Việt nhất thống dư địa chí. Nhà xuất bản Thuận Hóa và Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, trang 351
(8). Dương Văn An. Ô châu cận lục. Nhà xuất bản Thuận Hóa. Huế 2001, trang 93.
(9). Vũ tự Lập. Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng. Nhà xuất bản khoa học - xã hội. Hà Nội năm 1991, trang 115.
(10, 11). Địa bạ của làng lập vào năm Cảnh Trị thứ 7 (1669) dưới thời vua Lê Huyền Tông ghi tên làng là Phụ Lũy. Giáp tư địa đồ được lập vào năm 1812 dưới thời vua Gia Long. Hiện nay do ông Nguyễn Công Liên - Hội chủ làng lưu giữ.
- Trong bài viết này, chúng tôi có tham khảo một số tư liệu của đồng nghiệp, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: Nhà ở dân gian Quảng Trị, Bước đầu tìm hiểu một số ngôi chùa làng tiêu biểu ở Quảng Trị, Thạch Hãn giang những dấu ấn lịch sử và văn hóa.
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét