Thực hiện đa dạng hóa cây và con trong chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, một số xã thuộc huyện Triệu phong, tỉnh Quảng Trị đã tiến hành dồn vùng đổi thữa, chuyển đổi một số đất nông nghiệp có sản lượng thấp sang xây hồ, đắp đập nuôi tôm sú. Phải nói rằng đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước góp phần giúp người nông dân phá thế thuần nông, độc canh cây lúa vươn lên làm giàu, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở vùng nông thôn, đặc biệt là vùng quê gió cát quanh năm nghèo khó này. Qua gần 5 năm thực hiện chương trình nuôi tôm sú (2000-2005), với diện tích 264 ha, 523 hộ tham gia, tổng số vốn ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã đầu tư lên tới 9.036 tr đ, chưa kể đến nguồn vốn mà người dân đã chắt chiu, dành dụm bao nhiêu năm mà có, tất cả đều tập trung vào việc nuôi tôm sú, với hy vọng một ngày không xa họ sẽ vượt lên sự nghèo khó, có của ăn, của để, nhà cửa khang trang. Tuy nhiên niềm hy vọng ngày càng tan biến, vụ này nối tiếp vụ kia tôm không bị dịch bệnh cũng cọt còi không lớn, sản lượng tôm năm sau lại giảm hơn so với năm trước do môi trường ngày càng bị ô nhiễm. Đa số các hộ nuôi tôm nguồn thu nhập cuối vụ không đủ bù đắp các khoản chi phí. Phải nói rằng nghề nuôi tôm sú chi phí quá cao, từ con giống, thức ăn đến thuốc men xử lý ao hồ và điều trị khi bị dịch bệnh có hộ lên tới cả trăm triệu đồng/vụ. Thế là nợ nần chồng chất, tiền của trong gia đình lần lượt ra đi với hy vọng mong chờ vào vụ tới. Cứ như thế, năm sau nợ chồng lên năm trước.
Tính đến ngày 31/5/2005, nợ quá hạn chỉ tính nợ gốc đã lên tới 1.314 triệu đồng, chiếm 14,5% dư nợ cho vay nuôi tôm sú. Trong đó nợ quá hạn đến 180 ngày 462 triệu đồng, chiếm 35 % ; nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày 591 triệu đồng, chiếm 45 %; nợ quá hạn trên 360 ngày 261 triệu đồng, chiếm 20 % tổng dư nợ quá hạn cho vay nuôi tôm sú. Số dư nợ trong hạn còn lại gần như 100 % đều đã được ngân hàng cho điều chỉnh đến kỳ hạn cuối và đã hết thời gian được phép gia hạn nợ theo quy định trước đây của Ngân hàng Nhà nước và hướng dẫn của NHNo&PTNT Việt Nam. Khoảng quý I/2006 thì toàn bộ số dư nợ hiện còn trong hạn sẽ đến hạn và khả năng thu hồi nợ là rất khó khăn.
Phải nói rằng đa số các hộ nuôi tôm tình hình tài chính vô cùng khó khăn, ngoài các khoản nợ vay tại ngân hàng bao gồm cho vay ngắn hạn, trung hạn thông thường và vay từ nguồn khắc phục thiên tai có những hộ lên tới 200 triệu đồng tiền gốc, chưa kể tiền lãi. Ngoài ra họ còn nợ tư nhân bên ngoài; nợ các đại lý thuốc thú y, đại lý thức ăn gia súc từ vài chục tới vài trăm triệu đồng. Trong lúc đó nguồn thu của gia đình chủ yếu từ nuôi tôm, thu từ sản xuất nông nghiệp và từ kinh tế phụ gia đình không đáng kể. Tài sản gia đình họ ngoài ngôi nhà để ở, trị giá khoảng từ 10 đến 20 triệu đồng, còn các tài sản khác gắn liền trên đất có giá trị không đáng kể. Cho nên khả năng thu hồi nợ rất khó kể cả áp dụng biện pháp xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ.
Nhìn lại sau 5 năm thực hiện chương trình nuôi tôm sú ở một số xã thuộc huyện Triệu Phong, những hộ dân tham gia chẳng những không giàu lên “có của ăn, của để”, “nhà cao, cửa rộng”, mà càng ngày càng nghèo khó thêm bởi nợ nần chồng chất, thậm chí có những hộ làm ăn thua lỗ đã rời khỏi địa phương đi vào Nam làm ăn kiếm sống. Còn ngân hàng thì không thu hồi được vốn cho vay, nợ quá hạn cao, trích dự phòng rủi ro lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, tiền lương và đời sống của cán bộ nhân viên. Nói tóm lại hiệu quả kinh tế, xã hội mang lại từ việc thực hiện chương trình đầu tư nuôi tôm sú ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị không cao, có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân khách quan lẫn nguyên nhân chủ quan của nhiều cơ quan ban ngành ở địa phương liên quan trong việc quyết định thực hiện chương trình, việc hổ trợ, hướng dẫn, tư vấn về mặt kỷ thuật và không thể quên phần trách nhiệm của ngân hàng trong việc kiểm tra thẩm định trước, trong và sau khi cho vay nhằm giúp khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích và phát huy tốt hiệu quả. Tuy nhiên vấn đề hiện nay không phải quy trách nhiệm thuộc về ai mà điều quan trọng là phải tìm ra được biện pháp tháo gỡ tối ưu nhất, giúp cho người dân thoát khỏi vòng lẫn quẫn của nợ nần, giúp ngân hàng thu hồi được vốn vay mới là điều quan trọng./.
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét