Quảng Đời ta
13 thg 2, 2012
Tác giả: Lê Kim Anh
Thanh nhàn kể lại đời ta.
Quảng đời thấm thoắt nay đà bảy mươi
Tuổi già mà vẫn vui tươi
Luôn luôn thanh thản vui cười cháu con
Lên ba cha mất không còn
Mình mẹ lận đận, nuôi con tháng ngày.
Mẹ đi làm vắng buồn thay
Lang thang tìm mẹ, rớt ngay xuống rào (rớt xuống sông)
Còn sống cũng nhờ phúc cao
Mẹ về nghe kể xiết bao vui mừng.
Con mẹ một đứa mẹ cưng
Cùng mẹ hôm sớm, mẹ cưng, mẹ chiều
Thương mẹ sướng ít, khổ nhiều
Tháng ngày buôn tẩu, sớm chiều nuôi con
Lớn lên đến tám tuổi tròn
Mẹ cho đi học, lớn khôn bằng người
Học trường Lam Thủy xa vời
Năm đổ yếu lược, thì thôi ở nhà.
Một mình lủi thủi vào ra
Giữ nhà, giữ cữa, mẹ mà đi buôn
Ham chơi bắt dế, bắt chuồn
Hằng ngày giam nắng, mẹ không yên lòng
Mẹ bày viên thuốc cho xong
Thuốc Điều kinh mẹ bán rong Hải Trường
Lại thêm làm vải, làm nương
Giúp mẹ làm vải, kiếm đường sinh nhai
Cùng mẹ làm lụng hôm mai
Cạt bông, kéo sợi làm hoài chán ghê
Ham chơi, mẹ đánh bộn bề
Biết mình có lỗi, không hề than van
Mười bảy tuổi biết lo toan
Mẹ hỏi vợ sớm để Toan cậy nhờ
Mẹ ép cưới, lòng không ưa
Đi theo kháng chiến, nắng mưa dãi dầu
Ăn uống không đủ nhu cầu
Sinh ra đau ốm bắt đầu từ đây
Sốt rét khổ sở lắm thay
Nhớ nhà, nhớ mẹ lòng này buồn ghê
Sức khỏe kém, họ cho về
Quê hương giặc chiếm, không về được đâu?
Có mẹ Hà Lỗ đở đầu
Nương tựa vài tháng lần về thôn Đông
Liên lạc chị ở thôn Trung
Để rồi gặp mẹ không mông về làng
Chẳng may giặc Pháp đi càn
Bắt về Mỹ Chánh hỏi han đủ lời
Khai rằng dân sự mà thôi
Làm ăn cày cấy ở nơi quê nhà
Đưa vào tù hết kêu ca
Bắt đi vác đạn vào ra chiến trường
Hai năm vất vã đoạn trường
Ra tù mạnh khỏe, an khang về làng
Trình giấy Lý trưởng rõ rang
Ở nhà với mẹ, mẹ mừng biết bao
Chiến tranh lắm nỗi gian lao
Trốn tránh đi lính thế nào cho xong
Không nghờ sáng sớm rạng đông
Lính vây bốn phía khó long thoát ra
Nó bắt vào lính ở xa
Đưa vào Văn Thánh đưa ra Đông Hà
Không cho ở Quảng Trị ta
Đưa vào Bình Định, Tuy Hòa, Plecu
Thường xuyên sung nổ lu bù
Ca nông, đạn pháo mịt mù tối tăm
Ban đêm thường ngủ dưới hầm
Thân này mạng sống có phần éo le
Cơ may có giấy gọi về
Về nơi xứ Huế học nghề truyền tin
Mang Cá khác thể xà lim
Hằng ngày cắm trại biệt tin bên ngoài
Tích tè, hai buổi hôm mai
Học xong mãn khóa ra ngoài nghe tin
Giơ ne, hiệp định đã yên
Hòa bình, ngừng bắn hai Miền Việt Nam(1954-23 tuổi)
Đơn vị đóng tại Hội An
Về trình diện phépban mười lăm ngày
Vui mừng nhận phép đi ngay
Về nhà gặp mẹ, mừng thay quá chừng
Mừng mà trong dạ bang khuâng
Mẹ già đã đến lục tuần tính sao
Cuộc đời ngắn tựa chiêm bao
Phải lo hỏi vợ thế nào cho xong
Cưới vợ trong tiết mùa đông
Qua năm hạ tiết đầu lòng con trai
Chăm lo làm lụng hôm mai
Gia định hạnh phúc, tương lai sum vầy
Lính đi kiểm soát hằng ngày
Không giấy giải ngũ, bắt ngay vào tù
Hiến binh đưa về Tiểu Khu
Trả về đơn vị, giam tù Thừa Thiên
Nó giam tám, chin thàng liền
Đến ngày nó thả, băng miền về quê
Gia đình sum họp sướng ghê
Bồng con, mừng mẹ, mừng thê thỏa long
Ở nhà vài tháng bị còng
Đem về Quảng Trị vào vòng nhà lao
Khảo tra nó hỏi vì sao?
Lính thời không ở cứ đào ngũ luôn
Hai hang nước mắt trào tuôn
Mẹ già, mẹ muốn con luôn bên mình
Đất nước đã được hòa bình
ở nhà với mẹ, trọn tình hiếu trung
Nó đưa ra tòa án binh
Xữ tội đào ngũ thất kinh hãi hung
Phen này chắc tù mọt gông
Án treo tám tháng trong long mừng thay
Về quê có giấy tờ đây
Không lo lính bắt, ngày ngày làm ăn
Bây giờ tuổi đã hai lăm
An cư lạc nghiệp, khó khăn qua rồi
Hai sáu con gái ra đời
Đến ba mốt tuổi, sinh thời con trai
Sinh được mười lăm ngày trời
Vợ bệnh đột xuất qua đời đau thương
Cuộc đời gặp lắm tai ương
Nữa đường vợ chết hết đường than van
Chứa chan nước mắt hai hàng
Nuôi con gà trống, muôn vàn gian nan
Sữa bò cho bú nuôi khan
Gây nên suy nhược một năm qua đời
Còn lại hai đứa mà thôi
Liền hỏi vợ kế là đời thứ ba
Cưới xong thì tiếp làm nhà
Tiền mẹ hỗ trợ mua nhà làng Mai
Nhà rường cột gỏ hai vài
Trên mái lợp ngói, bên ngoài che phên
Nhà cữa như vậy đã yên
Làm lụng cùng vợ nhóm mnhen cuộc đời
Mậu Thân sáu tám tơi bời
Nhà thì Mỹ đốt không nơi che mình
Gặp lúc nhà cháy vợ sinh
Của cải cháy trụi liều mình ra đi
Và giặc tra khảo xuy vi
Đi lên Quảng Trị, chốn ni lánh mình
Đời sống túng thiếu bấp bênh
Cơm cháo đắp đổi, hồi sinh qua ngày
Nhà cữa không có buồn thay
Ở nhà ông Ngoại tháng ngày làm ăn
Càng ngày càng thấy khó khăn
Ở đây chỉ được một năm về làng(1969)
Có anh em, có họ hàng
Vui, buồn, cực, sướng ở làng vẫn hơn
Trong lòng đã bớt cô đơn
Tạm dựng nhà cữa qua cơn nắng hè
Cuộc sống thấy thoải mái ghê
Có mẹ, có vợ, làm về có con
Vợ trước còn lại hai con
Vợ kế bốn đứa vuông tròn xinh tươi
Đúng năm Nhâm Tý bảy hai
Chiến tranh ác liệt đánh vào làng ta
Ca nông tầm gần, tầm xa
Năm hai bom thả ngày ba bốn lần
Nhà cháy, lữa đỏ ầm ầm
Ngày đêm toàn ở dưới hầm mà thôi
Chịu đựng không nỗi nữa rồi
Gia đình bồng bế, tạm rời quê hương
Theo đoàn sơ tán lên đường
Sáu bảy ngyaf trường mới đến Cam Giang
Vĩ Thừa, Đại Độ, Quán Ngang
Chợ Cầu, Phước Thị, Lại An, Gio Hà
Tân Minh, Mai Xá, Phước Sa
Chổ ở tạm trú gọi là Lam Xuân
Sơ tán lắm nỗi gian truân
Giặc đánh Cữa Việt chuyển dần Trung Sơn
Pa Ry Hội nghị đã yên
Hòa bình ngừng bắn, hai Miền Bắc Nam(1973)
Chuyển về ở xã Cam Giang
Vĩ Thừa tạm ở, khai hoang cấy cày
Bảy lăm giải phóng mừng thay
, Có xe điện chở về ngay dễ dàng
Về đây gặp lại xóm làng
Sơ tán kẽ Bắc, người Nam đều về
Vườn thời cỏ tốt sum suê
Đường sá rậm rạp, tre nè khó đi
Vệ sinh vườn tược làm thì cho xong
Từ nay đã hết long đong
Kiếm đủ tre gổ ra công làm nhà
Nhà xong vào đội tăng gia
Khoai sắn, lúa má đều là của chung
Đến vụ tổng kết số công
Sản phẩm nhiều ít theo công đã làm
Nay đã đến tuổi bốn lăm
Làm lụng Hợp tác khó khăn nhiều bề
Ngày công tám lạng chán ghê
Cố gắng lao động không hề kêu van
Đông tàn, Xuân lại, Hè sang
Đến năm bốn chín có tang mẹ già
Mẹ đã đến tuổi tám ba
Mẹ không ở lại, vội qua suối vàng
Đám lo tương đối đàng hoàng
Phận con báo đáp, mới an lòng nầy
Kể từ lúc đó đến nay
Vợ chồng hòa thuận, thân này thãnh thơi
Lo cho con cái nên người
Gả chồng, cưới vợ việc đời cho xong
Nội ngoại mười ba cháu ròng
Một con chưa vợ trong lòng trong mong
Tranh thủ ghi lại vài dòng
Đều là tất cả đáy lòng viết ra
Để con cháu biết ông cha
Để có nghị lực xông pha với đời
Tuổi nay đã chẵn bảy mươi(2001)
Vui đàn con cháu, nghỉ ngơi tuổi già./.
Đông Hà, Ngày 01 tháng 03 năm Tân Tỵ(2001)
*Bài thơ được sáng tác trong thời gian ra Đông Hà chăm sóc bé Đan Thùy.
Tags:
BÀI VIẾT,
VĂN THƠ
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét